yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Bệnh dịch hạch và phương pháp phòng tránh  07:11 27/11/2014

Dịch hạch là một bệnh truyền nhiễm cực kỳ nguy hiểm (còn gọi là cái chết đen), tiến triển cấp tính, lây lan mạnh với tỷ lệ tử vong cao, được xếp vào diện phải kiểm dịch v.. [..]

Dịch hạch là một bệnh truyền nhiễm cực kỳ nguy hiểm (còn gọi là cái chết đen), tiến triển cấp tính, lây lan mạnh với tỷ lệ tử vong cao, được xếp vào diện phải kiểm dịch và khai báo quốc tế.


Tác nhân gây bệnh:

- Tác nhân gây bệnh là trực khuẩn dịch hạch (Yersinia pestis) thuộc họ Enterobacteriaceae, là trực khuẩn Gram âm.
- Đề kháng: bị chết ở nhiệt độ 550C trong vòng 30 phút, ở 1000C trong vòng 1 phút và bởi thuốc sát khuẩn thường dùng.

Các thể dịch hạch trên người

+ Thể hạch (chiếm hơn 90% các thể bệnh) là thể phổ biến nhất. Ở Việt Nam: 94-98% số ca mắc (Theo BV Chợ Quán từ 1997-1986).

+ Thể nhiễm khuẩn huyết: ở thể tiên phát Y.pestis xâm nhập số lượng lớn, không qua giai đoạn khu trú ở hạch, xét nghiệm máu có Y.pestis, thăm khám không phát hiện được triệu chứng viêm hạch.

+ Thể phổi (Pneumonic): thể bệnh đáng sợ nhất; bệnh tiến triển nhanh, lây lan nhanh và tử vong cao.

+ Thể màng não (Plague Meningitis): Ít gặp; luôn thứ phát sau thể hạch, nhiễm trùng huyết. Y.pestis vượt qua hàng rào máu - dịch não tủy gây tổn thương não, màng não.

Triệu chứng

Thể hạch (chiếm 90%)

Thể hạch biểu hiện bằng việc phát bệnh đột ngột. Bệnh nhân thấy ớn lạnh, mệt mỏi, đau cơ, đau bụng, buồn nôn và đau đầu. Sau đó, bệnh chuyển sang giai đoạn toàn phát với các triệu chứng đặc trưng là nhiễm khuẩn, nhiễm độc và sưng hạch.

Hạch có thể to bằng ngón tay cái hoặc bằng quả trứng gà, lúc đầu đau và cứng chắc, sau đó, hạch mềm hoá mủ. Thể hạch có thể tiến triển thành nhiễm khuẩn huyết, thể phổi hoặc viêm màng não thứ phát.

Thể hạch nếu không được điều trị sớm sẽ tiến triển đột ngột thành nhiễm khuẩn tối cấp (sốt cao 40 - 410C), tình trạng nhiễm khuẩn, nhiễm độc, huyết áp giảm, mạch nhanh, nhỏ, vật vã, rối loạn tinh thần, hôn mê, thường bệnh nhân chết trong vòng 3 - 5 ngày.

Thể nhiễm khuẩn huyết, thể phổi, thể viêm màng não (thường là thứ phát)

Dịch hạch thể phổi rất nguy hiểm vì có thể lây truyền trực tiếp qua đường hô hấp từ người bệnh sang người lành và bùng phát thành dịch lớn. Bệnh nhân có dấu hiệu ở phổi, đờm loãng, có bọt dính máu, thường xuất hiện tràn dịch màng phổi, có biến chứng phù phổi cấp, tỷ lệ tử vong cao.

Phương thức lây truyền:

Trong tự nhiên, bệnh dịch hạch lan truyền theo các con đường sau:

- Phổ biến nhất là qua trung gian bọ chét, đặc biệt là Xenopsylla cheopis: Bọ chét hút máu vật chủ, vi khuẩn dịch hạch nhân lên trong tiền dạ dày (proventriculus) của bọ chét làm tắc nghẽn tiêu hoá. Bọ chét bị tắc nghẽn, khi chuyển sang đốt vật chủ mới thì vi khuẩn sẽ theo vết đốt vào cơ thể vật chủ mới và như vậy xảy ra sự lan truyền bệnh. Lây lan trực tiếp từ người sang người qua bọ chét Pulex irritans, một loài bọ chét người được xem là quan trọng ở Nam Phi.
- Lan truyền trực tiếp từ vật chủ bệnh sang vật chủ lành không qua trung gian của bọ chét như:
+ Hít vào trực tiếp vi khuẩn dịch hạch tồn tại trong không khí do tiếp xúc “đối mặt” với dịch hạch thể phổi hoặc vật chủ chết vì dịch hạch.
+ Vi khuẩn dịch hạch xâm nhập trực tiếp qua da có hoặc không có tổn thương như tiếp xúc tay trực tiếp vào động vật bị bệnh, nhân viên các phòng xét nghiệm về vi khuẩn dịch hạch, động vật nuôi trong nhà (thường gặp nhất là mèo) cắn hoặc cào.

Phương pháp phòng bệnh dịch hạch

+ Đảm bảo vệ sinh môi trường.

+ Quản lý lương thực, thực phẩm, tránh để thừa, đọng thức ăn dư.

+ Nuôi mèo, đặt bẫy, phá vỡ hang tổ chuột.

+ Khống chế, phá hủy nơi sinh sản của chuột, bọ chét.

+ Dùng hoá chất các loại gây ngộ độc cho chuột qua thức ăn, nước uống, không khí (xông hơi diệt chuột).

Diệt chuột và bọ chét

Diệt chuột

+ Diệt đại trà bằng hoá chất, diệt định kỳ hàng năm từ 1 đến 2 lần vào thời gian sinh sản của chuột. Kết hợp diệt chuột và bọ chét bằng việc sử dụng hộp mồi theo nguyên tắc hộp mồi "Kartman".

+  Khi có dịch hạch (ở chuột hoặc ở người): Không diệt chuột đại trà, chỉ diệt khi chỉ số bọ chét thấp hơn 1 hoặc bằng 0 và tiến hành diệt bọ chét bằng hoá chất đặc hiệu ngay sau khi diệt chuột.

+ Hoá chất diệt chuột: Dùng hoá chất đa liều như Warfarin 0,05% hoặc Brodifacoum 0,005 - 0,01%, tốt nhất ở dạng thương phẩm như Klerat, Rat Killer hoặc theo hướng dẫn hàng năm của Bộ Y tế. Chỉ sử dụng hoá chất diệt chuột đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn cấp giấy chứng nhận đăng ký lưu hành.

Diệt bọ chét

+  Phun hoá chất phù hợp dạng tồn lưu như Permethrin 0,2 g/m2, Vectron 01 - 0,2 g/m2, Diazinon 2 g/m2 hoặc các hoá chất diệt bọ chét khác đã được Bộ Y tế cho phép sử dụng trong y tế và gia dụng (cấp giấy chứng nhận đăng ký lưu hành). Nên diệt bọ chét ngay từ đầu mùa dịch ở những nơi có dịch năm trước và những vùng có nguy cơ lây lan.

+  Đặt hộp mồi Kartman thường trực có hoá chất diệt bọ chét dạng bột và cần có thêm mồi hấp dẫn chuột. Thường xuyên kiểm tra hộp mồi để bổ sung hoá chất diệt bọ chét, diệt chuột và mồi hấp dẫn. Thời gian duy trì hộp mồi thường trực tuỳ thuộc vào chỉ số bọ chét tự do và mật độ chuột.

Lưu ý:

+ Khi thấy chuột chết bất thường, chết nhiều phải khai báo ngay với y tế cơ sở.

+ Khi đang có dịch dịch hạch, không được diệt chuột mà chỉ áp dụng các biện pháp diệt bọ chét.

Nguồn tổng hợp

Chú ý: Trên đây là những thông tin mà bạn có thể tham khảo. Nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về tâm lý và sức khỏe, hãy gọi điện đến tổng đài 1900.6180 để nhận được sự tư vấn nhanh chóng và hiệu quả từ các chuyên gia.