yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Các bệnh lây truyền qua đường tình dục  07:10 20/10/2015

bệnh lây qua đường tình dục là tình trạng nhiễm khuẩn được lây truyền từ người này sang người khác trong khi quan hệ tình dục. Hiện nay có tới hơn hai chục bệnh thuộc nhó.. [..]

bệnh lây qua đường tình dục là tình trạng nhiễm khuẩn được lây truyền từ người này sang người khác trong khi quan hệ tình dục. Hiện nay có tới hơn hai chục bệnh thuộc nhóm này, nếu bệnh lây qua đường tình dục được phát hiện sớm thì có thể điều trị và phòng ngừa một cách hữu hiệu. Một số bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến như:

1. Nhiễm Chlamydia

là một bệnh lây qua đường tình dục thường gặp, gây ra bởi vi khuẩn có tên gọi là Chlamydia trachomatis. Nếu bệnh không được phát hiện, nó có thể lan lên các phần trên của cơ quan sinh dục gây tổn thương và trong trường hợp nặng có thể gây khó khăn cho việc sinh sản về sau.

Có  khoảng 75% trường hợp nữ mắc bệnh và hơn 50% trường hợp nam mắc bệnh mà không hề có triệu chứng. Nếu có triệu chứng, thì người bệnh thường có biểu hiện sau 1 đến 3 tuần tiếp xúc với đối tượng nguy cơ.

Các triệu chứng bệnh bao gồm ra huyết trắng bất thường, tiểu rắt. Khi bệnh lan lên cổ tử cung, vòi trứng (nơi dẫn trứng vào buồng tử cung để thụ thai), thì một số bệnh nhân nữ vẫn không hề có triệu chứng gì, số khác có thể thấy đau bụng, đau lưng, buồn nôn, sốt, đau khi giao hợp hoặc ra huyết bất thường giữa chu kì. Nam hoặc nữ có quan hệ đường hậu môn khi nhiễm Chlamydia có thể có các triệu chứng như đau trực tràng, chảy dịch bất thường, hoặc chảy máu.

Vì nhiễm Chlamydia thường không có triệu chứng và có thể dẫn đến vô sinh ở nữ nếu không được phát hiện và chữa trị


2. Bệnh Lậu

Bệnh lây qua đường tình dục gây ra bởi vi khuẩn lậu, tên khoa học là Neisseria gonorrhoeae. Bệnh lậu lây qua quan hệ bằng dương vật, âm đạo, miệng hay hậu môn với bạn tình mắc bệnh.

Triệu chứng xuất hiện sau hai đến năm ngày nhiễm.Ở nam, triệu chứng có thể là cảm giác tiểu gắt, đau hay sưng tinh hoàn. Ở nữ, triệu chứng bệnh lậu thường nhẹ, không điển hình hoặc không có triệu chứng, và thậm chí có thể nhầm sang viêm bàng quang hay viêm âm đạo. Triệu chứng đầu tiên của nữ thường là tiểu gắt, tăng tiết dịch âm đạo bất thường, hoặc ra huyết giữa chu kỳ. Nữ mắc bệnh lậu có nhiều nguy cơ bị biến chứng, bất kể có hay không có triệu chứng, hoặc triệu chứng có nặng hay không.

Triệu chứng khi nhiễm trùng qua đường trực tràng ở nam và nữ bao gồm tiết dịch hậu môn bất thường, ngứa ngáy, đau, chảy máu hoặc đau khi đi tiêu.Nhiễm trùng đường hậu môn đôi khi không có triệu chứng. Nhiễm trùng đường hầu họng có thể gây đau họng, tuy nhiên thường cũng không có triệu chứng  gì.

Khi bệnh nhân có triệu chứng đặc hiệu của bệnh Lậu hoặc Chlamydia, kể cả khi kết quả xét nghiệm âm tính, thì hầu hết các bác sĩ vẫn tiến hành điều trị kháng sinh, bởi vì kết quả xét nghiệm có tỉ lệ âm tính giả cao. Vì Lậu và Chlamydia thường đồng nhiễm ,do đó bệnh nhân thường được điều trị phối hợp cả hai bệnh này cùng lúc. Bệnh nhân mắc bệnh Lậu cần được tầm soát các bệnh lây qua đường tình dục khác. Một khi bạn tình được chẩn đoán nhiễm Lậu hoặc Chlamydia, hoặc khi bạn tình có nhiều nguy cơ nhiễm các bệnh này, thì bạn tình cũng cần được điều trị mặc dù họ chưa có triệu chứng, để phòng ngừa lây nhiễm.

3. Giang mai

Bệnh lây qua đường tình dục gây ra bởivi khuẩn có tên là: Treponema pallidum. Giang mai lây từ người này sang người khác thông qua việc tiếp xúc trực tiếp giữa săng (loét) giang mai khi quan hệ qua đường âm đạo, hậu môn hoặc đường miệng.

Săng giang mai thường gặp trên cơ quan sinh dục ngoài như  âm đạo, hậu môn hoặc trực tràng. Săng còn có thể xuất hiện ở môi hoặc bên trong miệng. Giang Mai có 3 thời kìbệnh:

Giang mai thời kì đầu:
Đặc trưng của thời kì này là các săn không đau, có thể loét xuất hiện trên vùng mà vi khuẩn giang mai xâm nhập. Săn tồn tại từ 3 đến 6 tuần rồi tự hết mà không cần điều trị. Tuy nhiên, nếu không điều trị bệnh sẽ tiến triển sang giang mai giai đoạn 2.

Giang mai tiềm ẩn: xuất hiện khi tất cả triệu chứng của giang mai thời kì 1 và 2 mất đi. Nếu không điều trị, bệnh nhân có thể vẫn có giang mai trong cơ thể mà không có triệu chứng.Giang mai thời kì này có thể kéo dài nhiều năm.Khoảng  15% người mắc giang mai không được điều trị sẽ bước sang giai đoạn muộn, xuất hiện sau 10 đến 30 năm sau khi nhiễm bệnh. Các triệu chứng giang mai thời kì muộn bao gồm khó vận động cơ, liệt, tê chi, mù từ từ, và bệnh suy giảm trí tuệ.Trong thời kì này, bệnh giang mai tàn phá các cơ quan nội tạng như não, thần kinh, mắt, tim, mạch máu, gan và xương khớp. Những tổn thương này có thể dẫn đến tử vong.

Bệnh Giang Mai có thể dễ dàng chẩn đoán bằng thử máu, và điều trị bằng kháng sinh.

4. Herpes Sinh dục

Bệnh lây qua đường tình dục gây ra bởi hai loại virus có tên là Herpes Simplex Virus type 1 và type 2. Hầu hết herpes sinh dục gây ra bởi virus Herpes type 2. Bệnh đặc trưng bởi một hay nhiều bóng nước trên hoặc quanh bộ phận sinh dục, và hậu môn. Bệnh nhân có thể sốt, sưng hạch, và có triệu chứng giống cúm. Bệnh thường tái phát, mặc dù những lần tái phát thường nhẹ hơn và ngắn hơn. Nhiễm Herpes sinh dục là nhiễm cả đời, với diễn tiến không nhất định,từ nhẹ đến tái phát nhiều lần.

Hầu hết những người mắc Herpes sinh dục đều không biết họ đã nhiễm bệnh. Bệnh có thể lây truyền từ người nhiễm bệnh mà không có vết loét.

Sử dụng đúng và thường xuyên bao cao su có thể giúp giảm nguy cơ mắc bệnh, tuy nhiên, bệnh vẫn có khả năng xảy ra ở những vùng bao cao su không che phủ hết khi quan hệ. Những bệnh nhân có biểu hiện sang thương do Herpes nên kiêng giao hợp với bạn tình chưa bị lây nhiễm.

Virus Herpes type 1 có thể gây ra herpes tại vùng sinh dục, nhưng thường loại virus này gây bệnh ở môi và miệng nên thường gọi là “sốt bóng nước”. Bệnh Herpes sinh dục gây ra bởi virus Herpes typ 1 có thể lây truyền từ miệng sang vùng sinh dục hoặc do sinh hoạt tình dục với bạn tình nhiễm bệnh.

Có thể chẩn đoán bệnh Herpes thông qua thăm khám hoặc xét nghiệm.Hiện nay, không có thuốc điều trị dứt bệnh Herpes, tuy nhiên, thuốc kháng virus có thể giúp giảm triệu chứng và rút ngắn thời gian bệnh. Thêm vào đó, uống thuốc duy trì có thể ức chế herpes tái diễn, giúp giảm tần suất và mức độ các cơn bùng phát của bệnh và hạn chế lây sang cho bạn tình.

5. Viêm gan siêu vi B

Viêm gan nghĩa là nhiễm trùng tại gan. Viêm gan siêu vi B lây truyền qua đường tình dục, máu và lây truyền từ mẹ sang con. Loại virus này gặp nhiều ở Việt Nam mặc dù tỉ lệ mắc có giảm xuống nhờ chương trình tiêm chủng quốc gia cho trẻ nhỏ.  Nếu một đứa trẻ nhiễm virus lúc mới sinh, khoảng 90% bệnh sẽ tiến triển mạn tính, do đó các phụ nữ mang thai nên được kiểm tra bệnh và điều trị trước khi sinh.

Bệnh viêm gan siêu vi B cấp có thể không triệu chứng, nhưng cũng có thể đe dọa tính mạng. Triệu chứng bệnh bao gồm: sốt, mệt mỏi, ăn không ngon, buồn nôn, nôn, đau bụng, nước tiểu đậm, vàng da vàng mắt. Sau cơn cấp của bệnh viêm gan, khoảng 80% bệnh nhân sẽ khỏi hoàn toàn và có kháng thể. Số còn lại có thể chuyển sang mãn tính hoặc viêm gan kéo dài. Biến chứng bệnh bao gồm xơ gan và ung thư tế bào gan. Điều trị viêm gan siêu vi B có thể giúp giảm đáng kể nguy cơ bị ung thư gan.

Cách tốt nhất để phòng chống viêm gan siêu vi B là vaccine. Vaccine này tiêm thành 3 đợt trong vòng 4 đến 6 tháng.Cũng có thể tiêm 4 đợt, 3 mũi đầu trong vòng 2 tháng, mũi thứ 4 tiêm lúc 12 tháng

6. Virus Human papilloma (HPV)

Bệnh lây qua đường tình dục phổ biến nhất trên thế giới. Một số loại virus HPV có khả năng gây bệnh sùi sinh dục,  trong khi đó một số typ khác có thể gây ung thư cổ tử cung và hậu môn.

Ung thư cổ tử cung là nguyên nhân gây tử vong do ung thư đứng hàng thứ hai trên thế giới. Virus  HPV còn có thể gây nhiễm trùng đường miệng và hầu. Hầu hết những người nhiễm HPV thường không có triệu chứng, tuy nhiên, những người này vẫn có khả năng lây nhiễm cho người khác.

Bệnh sùi sinh dục thường bắt đầu bởi 1 nốt nhỏ hoặc một chum nốt nhỏ ở vùng sinh dục.Kích thước có thể nhỏ hoặc to, nhô lên hoặc bằng, hoặc hình dáng như bông cải.Nếu không điều trị, bệnh có thể tự biến mất, hoặc vẫn duy trì hoặc càng ngày càng nhiều nốt hơn.Bệnh đa phần được chẩn đoán qua thăm khám.

Vaccines có thể giúp ngăn ngừa một số type virus HPV. Gardasil là loại vaccine ngừa virus HPV types 6, 11, 16, và 18, thuốc này có thể giúp ngừa khoảng 70% of ung thư cổ tử cung và 90% sùi sinh dục. Loại vaccine này được khuyến cáo cho cả nam và nữ trong độ tuổi từ 9 đến 26 tuổi và cần tiêm 3 lần cách nhau 6 tháng.

7. Virus HIV

Là virus làm suy giảm miễn dịch trên người.

Bệnh HIV lây truyền qua đường tình dục, máu và từ mẹ sang con. Loại virus này tập trung chủ yếu ở máu, tinh trùng, sữa và dịch âm đạo.Có ít virus tồn tại trong nước bọt hay nước tiểu (tuy nhiên nước tiểu có thể lẫn tinh trùng trong đó).

Bệnh HIV tiềm ẩn khoảng từ 5-10 năm, trong khoảng thời gian đó, bệnh nhân hầu như có rất ít hoặc không có triệu chứng. Do đó nhiều người không biết mình đã nhiễm bệnh và có thể lây cho người khác. Loại virus này từ từ phá hủy hệ thống miễn dịch trong cơ thể, và bệnh nhân dần dần bị các bênh nhiễm trùng, đặc biệt là viêm phổi, viêm màng não, lao, và các bệnh khác. Dẫn đến tình trạng nặng và nguy cơ tử vong cao.

Nguồn tổng hợp

Chú ý: trên đây là những thông tin bạn có thể tham khảo. Nếu có bất kì thắc mắc hay gặp bất kì vấn đề gì về sức khỏe, tâm lý có thể gọi điện đến tổng đài 1900.6180 để được các bác sỹ tư vấn trực tiếp.