yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Cách điều trị thủy đậu không để lại sẹo  10:09 04/09/2015

Bệnh thủy đậu là bệnh truyền nhiễm gây dịch, do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh xảy ra quanh năm, ở phía bắc hay gặp vào cuối đông và mùa xuân; trong khi ở phía nam t.. [..]

Bệnh thủy đậu là bệnh truyền nhiễm gây dịch, do virus Varicella Zoster gây ra. Bệnh xảy ra quanh năm, ở phía bắc hay gặp vào cuối đông và mùa xuân; trong khi ở phía nam tập trung vào tháng 3 đến tháng 5 hàng năm. Bệnh thủy đậu lây qua đường hô hấp khi ho và hắt hơi. Ngoài ra bệnh cũng có thể lây khi tiếp xúc trực tiếp với các phỏng nước của người bệnh. Đối với những người chưa có miễn dịch, tiếp xúc với bệnh nhân thủy đậu có tỷ lệ lây nhiễm cao 90%. Bệnh gặp nhiều ở trẻ em(90%) là những cơ thể chưa có đáp ứng miễn dịch.


Khoảng 10 - 21 ngày, trung bình 14-17 ngày sau khi xâm nhập vào cơ thể, người bệnh bắt đầu biểu hiện triệu chứng nhiễm thủy đậu. Trẻ nhỏ thường sốt nhẹ, biếng ăn còn người lớn bị sốt cao, đau đầu, đau cơ, nôn ói. Sau đó cơ thể sẽ bắt đầu nổi mụn nước ở vùng đầu mặt, chi và thân. Mụn nước có đường kính vài milimet. Nếu bị nặng, mụn nước sẽ to hơn hay khi nhiễm thêm vi trùng mụn nước sẽ có màu đục do chứa mủ. Sau 1-2 ngày mới xuất hiện nốt đậu. Nốt đậu nổi nhiều là dấu hiệu cảnh báo bệnh có thể diễn biến nặng.

Sau khi nốt đậu mọc thì thường người bệnh giảm sốt và tổn thương bóng nước khô dần rồi tự bong vẩy vài ngày sau đó nhưng để lại sẹo mờ trên da sau vài tuần mới hết hẳn. Thông thường bệnh diễn biến kéo dài khoảng 2 tuần.

Tuy nhiên, có những biến chứng nguy hiểm của bệnh thủy đậu cần lưu ý:

Nhiễm trùng tại các nốt đậu: Khi nốt đậu bị vỡ hoặc trầy xước, có thể gây viêm tấy, nhiễm khuẩn da gây viêm mủ da, chốc lở thậm chí gây viêm cầu thận cấp... Nếu không chữa trị kịp thời, tổn thương sẽ ăn sâu, lan rộng, để lại nốt sẹo rỗ gây mất thẩm mỹ, nặng hơn còn dẫn đến viêm mô tế bào, nhiễm trùng máu.

Viêm phổi: Biến chứng thường gặp ở người lớn hơn là trẻ em và thường xuất hiện vào ngày thứ 3-5 của bệnh. Biểu hiện sốt cao, thở nhanh, khó thở, tím tái, đau ngực, ho ra máu, đây là biến chứng rất nguy hiểm, bệnh nhân có thể tử vong.

Viêm não: Bệnh thủy đậu có thể gây biến chứng viêm màng não vô khuẩn đến viêm não, thường gặp ở người lớn. Gặp biến chứng này, tỉ lệ tử vong chiếm 5-20%. Ngay cả khi được cứu sống vẫn có thể để lại di chứng nặng nề hoặc phải sống đời thực vật.

Biến chứng với phụ nữ mang thai: Nếu mẹ mắc thủy đậu từ 5 ngày trước đến 2 ngày sau khi sinh, trẻ sinh ra dễ mắc bệnh thủy đậu chu sinh và có tỉ lệ tử vong cao (khoảng 30%).

Nếu mẹ mắc thủy đậu trước sinh trên 1 tuần diễn biến lành tính, khi sinh trẻ có kháng thể nên không nguy hiểm lắm.

Mẹ mắc bệnh thủy đậu khi mang thai dưới 20 tuần sinh con ra sẽ có một tỉ lệ nhỏ (khoảng 2%) bị hội chứng thủy đậu bẩm sinh với các biểu hiện: sẹo da, nhẹ cân, các bệnh về mắt (đục thủy tinh thể, tổn thương võng mạc...), tay chân ngắn, đầu bé, chậm phát triển tâm thần...

Cách điều trị bệnh thủy đậu hiệu quả.

Hiện chưa có thuốc đặc trị bệnh mà cách điều trị bệnh thủy đậu tùy thuộc vào sự phát hiện bệnh sớm trong 24 giờ đầu. Cần cho người bệnh đi khám bệnh ngay. Căn cứ vào tình trạng bệnh, bác sĩ sẽ cho điều trị nội trú hoặc điều trị tại nhà.

Điều quan trọng nhất trong điều trị, chăm sóc bệnh nhân thủy đậu là làm sạch da và vệ sinh thân thể:

- Cho người bệnh nằm nghỉ trong 1 phòng thoáng mát, sạch sẽ, ăn các chất dễ tiêu.

- Chú ý cắt ngắn móng tay và giữ sạch tay.

_ Trẻ nhỏ phải cho mang bao tay, xoa bột tan (talc) vô khuẩn hoặc phấn rôm khắp người để trẻ đỡ ngứa.

- Tắm rửa bằng các dung dịch sát khuẩn

- Tránh cọ xát làm các bóng nước bị vỡ.

Điều trị triệu chứng:

- Tại chỗ nốt đậu dập vỡ nên chấm dung dịch xanh metylen.

- Chống ngứa để bệnh nhân đỡ cào gãi bằng các thuốc kháng histamin như: chlopheniramin, loratadine…

- Khi bệnh nhân đau và sốt cao, có thể cho dùng acetaminophen. Không bao giờ được dùng aspirin hoặc những thuốc cảm có chứa aspirin cho trẻ em do nguy cơ xảy ra hội chứng Reye (một bệnh chuyển hoá nặng gồm tổn thương não và gan dẫn đến tử vong).

- Mỗi ngày 2-3 lần nhỏ mắt, mũi thuốc sát khuẩn như chloramphenicol 0,4% hoặc acgyrol 1%.

- Khi nốt phỏng vỡ, chỉ nên bôi thuốc xanh metilen; không được bôi mỡ tetraxiclin, mỡ penixilin hay thuốc đỏ.

Điều trị bệnh thủy đậu bằng thuốc kháng virus

- Trong vòng 24 giờ đầu khi xuất hiện nốt đậu dùng kháng sinh chống virut loại acyclovir để giúp rút ngắn thời gian và mức độ nghiêm trọng của bệnh. Liều lượng phụ thuộc lứa tuổi hoặc cân nặng (đối với trẻ nhỏ).

- Trường hợp nặng hơn hoặc có biến chứng như viêm màng não, trẻ suy giảm miễn dịch, có thể dùng acyclovir đường tĩnh mạch.

- Tuân thủ chỉ định dùng thuốc của bác sĩ. Không tự ý dùng thuốc hoặc nghe lời mách bảo mà dùng thuốc sai lầm, dẫn đến thủy đậu bội nhiễm nặng.

Giai đoạn vừa mới lành bệnh, cần phải tuyệt đối chống nắng và tránh cào gãi gây trầy xước. Bổ sung đầy đủ các vitamin và yếu tố vi lượng cho da thông qua chế độ ăn hoặc thuốc uống. Giữ vệ sinh cơ thể sạch sẽ và nghỉ ngơi nhiều.

Cách phòng bệnh

Phòng bệnh không đặc hiệu: Cần phát hiện sớm ở thời kỳ khởi phát để cách ly, tránh lây lan trong cộng đồng. Đối với người suy giảm miễn dịch có tiếp xúc với nguồn bệnh và trẻ sơ sinh có mắc thủy đậu trong giai đoạn chu sinh sẽ có nguy cơ bị thủy đậu nặng, nên tiêm Globulin miễn dịch thủy đậu đặc hiệu VZIG hoặc HZIP.

Phòng bệnh đặc hiệu: Vaccin thủy đậu được sản xuất từ virus sống giảm độc lực. Tiêm vaccin có hiệu quả miễn dịch cao 97% và kéo dài. Sau tiêm vẫn có thể mắc thủy đậu nhưng hầu hết bệnh cảnh đều nhẹ.

Tuổi bắt đầu tiêm ngừa từ 12 tháng tuổi đến 112 tuổi, tiêm 1 liều duy nhất. Người lớn và trẻ từ 13 tuổi trở lên chưa bị thủy đậu hoặc chưa tiêm phòng nên tiêm phòng 2 mũi cách nhau 6 tuần là tốt nhất hoặc trong 4-6 năm. Chống chỉ định với phụ nữ mang thai, người dị ứng với gelatin, neomycin, người suy giảm miễn dịch trung gian tế bào.

Nguồn tổng hợp.

Chú ý: Trên đây là những thông tin về sức khỏe nếu các bạn có những thắc mắc hãy gọi điện đến tổng đài 1900.6180 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các chuyên gia.