yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Cẩn trọng nhiễm độc thận khi dùng thuốc kháng Virus  08:09 22/09/2015

Tổn thương thận do thuốc là một trong những nguyên nhân quan trọng gây suy thận cấp trên lâm sàng, chiếm 2 - 15% tổng số các suy thận cấp phải nhập viện điều trị. Trong đ.. [..]

Tổn thương thận do thuốc là một trong những nguyên nhân quan trọng gây suy thận cấp trên lâm sàng, chiếm 2 - 15% tổng số các suy thận cấp phải nhập viện điều trị. Trong đó hay gặp nhất là thuốc điều trị Viêm gan, Hiv/Aids,...

Trong những năm gần đây, rất nhiều loại thuốc diệt virut mới tác dụng mạnh và hiệu quả hơn đã ra đời (như nhóm ức chế men protease). Tuy nhiên, các thuốc này đều có nguy cơ gây độc cho thận, nhất là khi được dùng phối hợp ở những bệnh nhân phức tạp (như các trường hợp nhiễm HIV/AIDS hoặc suy giảm miễn dịch sau ghép tạng). Do thận là nơi chủ yếu bài tiết các thuốc diệt virut nên thường xuyên phải tiếp xúc với nồng độ cao của các thuốc này cũng như các chất chuyển hoá của chúng. Ngoài ra, cấu trúc và hoạt động chức năng của thận cũng làm cho nó dễ bị tích tụ các độc tố.


1. Nhiễm độc ống thận cấp:

Nhiễm độc ống thận trực tiếp có thể gây suy thận cấp và rối loạn chức năng ống thận do làm thoái hoá và bong tróc các tế bào biểu mô. Tổn thương có thể từ mức độ nhẹ đến hoại tử ống thận cấp nặng đòi hỏi phải lọc máu. Các tổn thương nặng thường xảy ra ở những bệnh nhân có bệnh thận từ trước hoặc dùng thuốc diệt virut cùng với các thuốc khác gây độc thận.

Cidofovir: Là một chất tương tự nucleotide. Tác dụng gây độc thận của thuốc này phụ thuộc liều dùng. Các rối loạn này thường hồi phục khi giảm liều hoặc ngưng dùng thuốc. Để giảm bớt nguy cơ xảy ra các biến chứng này, cần giảm liều dùng cidofovir ở những bệnh nhân có suy thận và các tổn thương khác ở thận và tránh dùng thuốc này cùng với các thuốc có khả năng gây độc cho thận như foscarnet, amphotericin B, gentamycin...

Adefovir dipivoxil: Tác dụng gây độc thận của thuốc này cũng phụ thuộc vào liều dùng. Các biểu hiện này thường nhẹ và ít gặp hơn ở liều 30mg/ngày và không xảy ra ở liều 10mg/ngày.

2. Bệnh thận do tinh thể:

Sự lắng đọng các tinh thể ở thận có thể gây ra suy thận, tổn thương thận chủ yếu xảy ra do các tinh thể kết tủa ở ống lượn xa. Hầu hết các  trường hợp bệnh thận do tinh thể sau dùng thuốc diệt virut xảy ra ở những người không được cung cấp đủ nước, có suy thận tiềm tàng, dùng thuốc quá liều hoặc có các rối loạn chuyển hoá.

Acyclovir: Thuốc này ít tan trong nước tiểu nên dễ có nguy cơ kết tủa thành các tinh thể ở trong ống thận và gây tắc ống thận, nhất là ở trong những trường hợp truyền nhanh tĩnh mạch liều cao và lưu lượng nước tiểu quá ít. Để tránh tai biến này nên tránh dùng acyclovir ở những người đã bị suy thận, tránh dùng liều cao tiêm tĩnh mạch và phải cung cấp đủ dịch.

Indinavir: Indinavir ít tan ở môi trường nước tiểu và được ghi nhận có thể gây bệnh thận do tinh thể, đái ra cặn sỏi hoặc sỏi thận. Hầu hết các trường hợp suy thận do indinavir là ở mức độ nhẹ và có hồi phục, chỉ khoảng 0,5% có các triệu chứng nặng như sỏi thận, đái máu, đau thắt lưng và phải ngưng dùng thuốc. Để giảm nguy cơ lắng đọng indinavir trong nước tiểu, bệnh nhân cần được cung cấp ít nhất 3 lít nước mỗi ngày.

Ganciclovir: Một số trường hợp kết tủa ganciclovir ở trong ống thận gây suy giảm chức năng thận cũng đã được ghi nhận.

3. Bệnh lý cầu thận:

Bệnh lý cầu thận được ghi nhận sau dùng cả interferon (IFN) và  foscarnet. Khoảng 25% bệnh nhân dùng IFN xuất hiện protein trong nước tiểu mức độ nhẹ đến vừa và 10% có suy chức năng thận, hầu hết các trường hợp này xảy ra ở những người có bệnh máu hoặc viêm gan. Một số trường hợp suy thận do lắng đọng tinh thể trisodium foscarnet ở mao mạch cầu thận cũng đã được phát hiện.

4. Đái tháo nhạt do nguyên nhân tại thận:

Biểu hiện là tiểu nhiều, khát và uống nhiều. Các thuốc diệt virut như foscarnet, indinavir, cidofovir, tenofovir và didanosine đều có thể gây ra biểu hiện bệnh lý này bằng cách làm giảm đáp ứng của thận với hormon chống bài niệu.

5. Suy thận mạn:

điều trị kéo dài với indinavir và cidofovir  được ghi nhận có thể gây suy thận mạn, teo thận trong một số trường hợp.

Nguồn: Tổng hợp.

Lưu ý: Trên đây là những thông tin mà bạn có thể tham khảo, nếu có bất kỳ thắc mắc gì hãy gọi tới tổng đài 1900.6180 để nhận được sự tư vấn trực tiếp từ các bác sỹ.