yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Chẩn đoán Rubella và những điều nên biết  03:02 13/02/2017

Bệnh Rubella hay còn gọi là sởi Đức, do vi-rút thuộc nhóm Rubivirus họ Togaviridae gây ra. Là một bệnh sốt phát ban lành tính, thường khỏi trong khoảng 1 tuần, nhưng lại .. [..]

Bệnh Rubella hay còn gọi là sởi Đức, do vi-rút thuộc nhóm Rubivirus họ Togaviridae gây ra. Là một bệnh sốt phát ban lành tính, thường khỏi trong khoảng 1 tuần, nhưng lại rất nguy hiểm với các thai phụ vì tính chất gây quái thai cho thai nhi. Bài viết dưới đây sẽ giúp bạn hiểu hơn về căn bệnh này và có thể trang bị cho bản thân những kiến thức bảo vệ sức khỏe.

Bệnh lây truyền qua đường hô hấp  (nước bọt, nước mũi của người bệnh) và khả năng gây bệnh mạnh nhất vào thời gian ủ bệnh và khi đã phát ban thì khả năng lây nhiễm giảm. Các triệu chứng chủ yếu sau thời gian ủ bệnh:

Sốt: Sốt nhẹ kèm đau đầu, mệt mỏi thường xuất hiện 1- 4 ngày, sau khi phát ban thì sốt giảm.

Nổi hạch: Thường nổi trước phát ban, tồn tại vài ngày sau khi ban bay hết.

Phát ban: Ban mọc lúc đầu ở trên đầu, mặt, rồi mọc khắp toàn thân, thường không tuần tự như sởi. Nốt ban có hình tròn hay bầu dục, đường kính chừng khoảng 1-2mm, các nốt có thể hợp thành từng mảng hay đứng riêng rẽ. Trong vòng 24 giờ ban mọc khắp người, chỉ sau 2-3 ngày là bay hết.

Đau khớp hoặc đau khắp mình mẩy, hay gặp ở phụ nữ.

Phụ nữ có thai bị Rubella

Trong 3 tháng đầu:70%-100% trẻ đẻ ra bị Rubella bẩm sinh và 25% trẻ bị dị tật bẩm sinh ở các cơ quan tim, mắt, não.

Sau 3 tháng:Nếu mẹ có thai được 13-16 tuần, thì trẻ bị Rubella bẩm sinh với tỷ lệ 17%. Khi thai được 17- 20 tuần, thì tỷ lệ 5%. Và khi thai hơn 20 tuần, tỷ lệ đó bằng 0%.

Biến chứng của hội chứng rubella bẩm sinh gồm điếc, đục thuỷ tinh thể, bệnh tim và chậm phát triển trí tuệ.

Chẩn đoán xét nghiệm:

- ELISA tìm kháng thể chuyên biệt: nhạy cảm nhất và dễ thực hiện

- HI (Hemagglutination inhibition): ức chế ngưng kết hồng cầu.

- IHA (Indirect Hemagglutination): ngưng kết hồng cầu thụ động

- LA (Latex Agglutination): ngưng kết Latex

- IgM đặc hiệu

- Phân lập siêu vi gây bệnh: hỗ trợ nghiên cứu

- Bệnh Rubella đặc biệt ở thai phụ có thể được xác định bằng hiệu giá kháng thể tăng lên 4 lần giữa thời kỳ cấp tính và thời kỳ khỏi bệnh bằng kỹ thuật miễn dịch enzyme(ELISA)

- Phân lập được virus từ họng bệnh nhân trong một tuần trước đến hai tuần sau phát ban. Các mẫu máu hoặc nước tiểu hoặc phân có thể dùng để xét nghiệm virus (10-14 ngày)

- Chẩn đoán xác định CRS có thể dựa vào :

  • Phát hiện kháng thể IgM đặc hiệu ở trẻ sơ sinh. Kháng thể này không qua nhau thai, sự hiện diện của nó là do hệ miễn dịch tổng hợp được từ khi trẻ chưa ra đời.
  • Sự tồn tại của hiệu giá kháng thể IgG từ mẹ truyền sang con hoặc phân lập được virus từ họng, nước tiểu kéo dài trong một năm.

Điều trị:  không có điều trị đặc hiệu cho bệnh rubella. Điều trị triệu chứng và nâng cao thể trạng. Tư vấn cho phụ nữ có thai nhiễm Rubella: Tuổi thai < 12 tuần: bỏ thai; Tuổi thai 13-16 tuần: tư vấn có thể dưỡng thai nhưng phải theo dõi giám sát nghiêm ngặt; Tuổi thai > 16 tuần: tư vấn tỷ lệ thấp dị tật bẩm sinh, theo dõi giám sát sau sanh.

Phòng bệnh: Miễn dịch chủ động bằng tiêm chủng vắc- xin vi-rút rubella sống đã làm giảm khả năng gây bệnh đã được sử dụng ở nhiều nước. Hiện nay là vắc-xin tiêm chủng thường qui cho trẻ 1-2 tuổi và được dùng cùng với vắc-xin phòng sởi, quai bị. Phụ nữ có thai chống chỉ định tiêm vắc-xin. Phải tiêm chủng 3 tháng trước khi có thai.

Bác sỹ Tổng Đài.