yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Dự phòng phơi nhiễm HIV do tai nạn nghề nghiệp  04:09 17/09/2014

Phơi nhiễm với HIV do tai nạn nghề nghiệp là tiếp xúc trực tiếp với máu và các dịch cơ thể có nhiễm HIV dẫn đến nguy cơ lây nhiễm HIV. Phơi nhiễm HIV hay gặp nhất ở người.. [..]

Phơi nhiễm với HIV do tai nạn nghề nghiệp là tiếp xúc trực tiếp với máu và các dịch cơ thể có nhiễm HIV dẫn đến nguy cơ lây nhiễm HIV. Phơi nhiễm HIV hay gặp nhất ở người làm nhân viên y tế.

2. Quy trình xử lý  sau phơi nhiễm:

a. Xử lý vết thương tại chỗ:

- Tổn thương da chảy máu:

+ Xối ngay vết thương dưới vòi nước chảy.

+ Để vết thương tự chảy máu trong một thời gian ngắn, không nặn bóp vết thương.

+ Rửa kỹ bằng xà phòng và nước sạch, sau đó sát trùng bằng các dung dịch sát khuẩn (Dakin, Javel 1/10, hoặc cồn 700) trong thời gian ít nhất 5 phút.

- Phơi nhiễm qua niêm mạc mắt: Rửa mắt bằng nước cất hoặc nước muối NaCl 0,9% liên tục trong 5 phút.

- Phơi nhiễm qua miệng, mũi:

+ Rửa, nhỏ mũi bằng nước cất hoặc dung dịch NaCl 0,9 %.

+ Xúc miệng bằng dung dịch NaCl 0,9 % nhiều lần.

 

b. Báo cáo người phụ trách và làm biên bản:

Nêu rõ ngày giờ, hoàn cảnh xảy ra, đánh giá vết thương, mức độ nguy cơ của
phơi nhiễm. Lấy chữ ký của những người chứng kiến và chữ ký của người phụ trách.

3. Đánh giá nguy cơ phơi nhiễm:

Có nguy cơ:

1.  Tổn thương do kim có chứa máu đâm xuyên qua da gây chảy máu: kim nòng rỗng cỡ to, chứa nhiều máu, đâm sâu nguy cơ cao hơn kim nòng nhỏ, chứa ít máu và đâm xuyên nông.

2.  Tổn thương da sâu do dao mổ hoặc các ống nghiệm chứa máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bị vỡ đâm phải.

3.   Máu và chất dịch cơ thể của người bệnh bắn vào các vùng da, niêm mạc bị tổn thương viêm loét hoặc xây sát từ trước (thậm chí ngay cả khi không biết có bị viêm loét hay không): nếu viêm loét hoặc xây sát rộng th́ì nguy cơ cao hơn.

Không có nguy cơ: máu và dịch cơ thể của người bệnh bắn vào vùng da lành.

4. Xác định tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm.

− Người bệnh đã được xác định HIV (+): Tìm hiểu các thông tin về tiền sử và đáp ứng đối với thuốc ARV

− Nếu chưa biết về tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm: Tư vấn và lấy máu xét nghiệm HIV.

− Trường hợp không thể xác định được (bị phơi nhiễm trong trường hợp đang làm nhiệm vụ, đối tượng trốn thoát).

5. Xác định tình trạng HIV của người bị phơi nhiễm.

− Tư vấn trước và sau khi xét nghiệm HIV theo quy định

− Nếu ngay sau khi bị phơi nhiễm, người bị phơi nhiễm có HIV(+): đã bị nhiễm HIV từ trước, không phải do phơi nhiễm.

− Nếu HIV (-): kiểm tra lại sau 3 và 6 tháng.

6. Tư vấn cho người bị phơi nhiễm:

1.      Nguy cơ nhiễm HIV, viêm gan B, C

2.      Người bị phơi nhiễm cần được cung cấp các thông tin và được tư vấn thích hợp về dự phòng phơi nhiễm, lợi ích và nguy cơ.

3.      Giới thiệu các tác dụng phụ của thuốc và triệu chứng của nhiễm trùng tiên phát: sốt, phát ban, buồn nôn hoặc nôn, thiếu máu, nổi hạch v.v...

4.      Tư vấn Phòng lây nhiễm cho người khác: người bị phơi nhiễm có thể làm lây truyền HIV cho người khác dù xét nghiệm HIV âm tính (thời kỳ cửa sổ), vì vậy cần phải thực hiện các biện pháp dự phòng lây nhiễm.

5.      Tư vấn tuân thủ điều trị và hỗ trợ tâm lý

7. Điều trị dự phòng bằng ARV cho người bị phơi nhiễm:


Chỉ định:

1.      Tiến hành điều trị bằng thuốc ARV càng sớm càng tốt từ 2-6 giờ và trước 72 giờ sau khi bị phơi nhiễm cho tất cả các trường hợp phơi nhiễm có nguy cơ, đồng thời tiến hành đánh giá tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm và người bị phơi nhiễm.

2.      Nếu nguồn gây phơi nhiễm có xét nghiệm HIV (+): tiếp tục điều trị theo hướng dẫn.

3.      Nếu nguồn gây phơi nhiễm có xét nghiệm HIV (-): có thể xem xét dừng điều trị. Nếu nghi ngờ nguồn gây phơi nhiễm có yếu tố nguy cơ lây nhiễm và đang ở trong giai đoạn cửa sổ thì tiếp tục tục điều trị theo hướng dẫn.

4.      Nếu người bị phơi nhiễm có xét nghiệm HIV (+): không điều trị dự phòng sau phơi nhiễm, chuyển đến các cơ sở chăm sóc và điều trị HIV/AIDS để được theo dõi và điều trị như những người đã nhiễm HIV khác.

5.      Nếu người bị phơi nhiễm có nguy cơ và xét nghiệm HIV (-): tiếp tục điều trị theo  hướng dẫn.

6.      Phơi nhiễm không có nguy cơ: không cần điều trị

Trường hợp không xác định được tình trạng HIV của nguồn gây phơi nhiễm: xử lý như là trường hợp phơi nhiễm với nguồn HIV (+).

Nguồn tổng hợp

Chú ý:Trên đây là những thông tin mà các bạn có thể tham khảo, để biết  thêm chi tiết và được hướng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 1900.6180 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.