yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Nguyên nhân, triệu chứng tiêu chảy ở trẻ nhỏ  09:11 05/11/2015

Tiêu chảy là một bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ nhở nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em là do virus. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenoviru.. [..]

Tiêu chảy là một bệnh nguy hiểm thường gặp ở trẻ nhở nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em là do virus. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 2 tuổi.

Tiêu chảy là đi ngoài phân lỏng hoặc tóe nước 3 lần/24 giờ. Nếu ỉa chảy <14 ngày gọi là tiêu chảy cấp. Nếu ỉa chảy > 14 ngày gọi là tiêu chảy kéo dài.

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 2 tuổi.

Nguyên nhân

Tác nhân gây bệnh:

Virus:

Virus là nguyên nhân chủ yếu gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em. Những loại virus gây tiêu chảy là Rotavirus, Adenovirus, Norwalk virus, trong đó Rotavirus là tác nhân chính gây bệnh tiêu chảy cho trẻ em dưới 2 tuổi. Ước tính có đến 1/3 số trẻ em dưới 2 tuổi ít nhất bị một đợt tiêu chảy do Rotavirus. Virus xâm nhâp vào trong liên bào ruột non, không ngừng nhân lên, phá huỷ cấu trúc liên bào, làm cùn nhung mao ruột, gây rối loạn men tiêu hoá đường Lactose của sữa mẹ, làm tăng xuất tiết nước và điên giải vào trong lòng ruột.

Ngoài ra có các loại Vi khuẩn: Coli đường ruột, trực trùng lị Shigell, Campylobacter Jejuni, Phảy khuẩn Vibrio Cholerae… và một số loại ký sinh trùng và nấm khác.

Yếu tố nguy cơ:

Tuổi:

Trẻ dưới 2 tuổi hay bị tiêu chảy, đặc biệt là trẻ ở độ tuổi 6 - 11 tháng (trẻ trong giai đoạn ăn sam).

Tình trạng suy dinh dưỡng: Trẻ SDD dễ mắc bệnh tiêu chảy và bệnh lại thường nặng, dễ gây tử vong.

Tình trạng suy giảm miễn dịch: Trẻ bị bệnh sởi, bị AIDS thường tăng tính cảm thụ đối với bệnh tiêu chảy.

Cơ địa: Trẻ đẻ non, đẻ yếu.

Tập quán làm tăng nguy cơ tiêu chảy:

Trẻ không bú mẹ, ăn nhân tạo không đúng phương pháp.

Cho trẻ bú chai, vì chai và vú cao su rất khó rửa sạch.

Ăn sam sớm, thức ăn để lâu.

Sử dụng nguổn nước bị ô nhiễm.

Chế độ vệ sinh cá nhân, vệ sinh ăn uống kém.

Tính chất mùa:

Tiêu chảy do virus thường xảy ra vào mùa đông.

Tiêu chảy do vi khuẩn thường xảy ra vào mùa h è.

Cấc nhiễm khuẩn ngoài ruột cũng cố thể gây ỉa chảy:

Viêm phổi.

Viêm tai giữa, viêm tai xương chũm.

Nhiễm trùng đường tiết niệu.

Dùng kháng sinh:

Trẻ được dùng kháng sinh bừa bãi, nhất là các loại kháng sinh dùng bằng đường uốn g sẽ tiêu diệt hết các vi khuẩn có lợi cho cơ thể, gây nên ỉa chảy do loạn khuẩn.

Triệu chứng bệnh:

Triệu chứng tiêu hoá:

Tiêu chảy:

Tiêu chảy (đi ngoài phân lỏng) là triệu chứng không thể thiếu được trong bệnh tiêu chảy. Tiêu chảy thường xảy ra đột ngột bởi dấu hiệu ỉa nhiều lần phân nhiều nước, có thể có lẫn nhày, máu và có mùi chua, tanh, nồng hoặc thối khẳn. Có trường hợp phân tự chảy ra do bị liệt cơ co thắt hâu môn.

Nôn:

Nôn thường xuất hiện sớm trước khi có triệu chứng ỉa lỏng từ vài g iờ đến vài chục giờ. Nôn có thể xảy ra liên tục hoặc chỉ nôn một vài lần trong ngày làm trẻ mất nước, mất H+ và Cl-. Trong trường hợp này, nguyên nhân gây bệnh thường do Rotavirus hoặc tụ cầu.

Cần xác định xem trẻ nôn bao nhiêu lần, số lượng chất nôn trong mỗi lần, tính chất và thành phần chất nôn (toàn nước, thức ăn, chất khác), vì số lượng dung dịch oresol cần bồi phụ cho trẻ phụ thuộc vào số lượng dịch mất đi do ỉa và nôn.

Biếng ăn:

Biếng ăn thường xuất hiện sớm ngay sau khi trẻ bị tiêu chảy: Trẻ t hường từ chối các thức ăn thông thường, chỉ thích uống nước. Cần khai thác xem chế độ ăn của trẻ ra sao, trẻ có được bú không? Gia đình đã cho trẻ uống thuốc gì, có cho trẻ uống oresol hoặc nước gì chưa?

Triệu chứng mất nước:

Khi trẻ bị tiêu chảy cần phải tiến hành ngay việc đánh giá tình trạng mất nước bằng cách nhân định trên bệnh nhân: trẻ có các biểu hiện mất nước khác nhau tùy thuộc vào các mức độ mất nước của trẻ.

Nên quan sát trẻ về toàn trạng để đánh giá mức độ mất nước: trẻ tỉnh táo, kích thích, vật vã, quấy khóc, lơ mơ, li bì…

Dấu hiệu khát nước: trẻ uống được, không uống được, hay uống háo hức….

Ngoài ra cần chú ý quan sát để biết mắt trẻ có trũng không, trẻ có nếp véo da không, môi khô, lưỡi khô….

Đánh giá một số dấu hiệu khác của trẻ như: nhịp thở, nước tiểu, cân nặng…. để đưa ra các nhận định chính xác và kịp thời đưa trẻ tới các trung tâm y tế để được khám và điều trị.

Nguồn tổng hợp

Chú ý: Trên đây là những thông tin mà bạn có thể tham khảo, nếu bạn có bất kỳ thắc mắc nào về tâm lý và sức khoẻ, hãy gọi điện đến tổng đài tư vấn 1900.6180 để nhận được sự tư vấn trực tiếp và cụ thể từ các chuyên gia.