yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Sử dụng thuốc điều trị phơi nhiễm HIV?  08:09 16/09/2015

Khi bị phơi nhiễm HIV, người trong cuộc sẽ không tránh khỏi sự lo lắng, sợ hãi và bối rối vì không biết xử lý thế nào. Trong thực tế, không phải trường hợp nào người bị p.. [..]

Trong trường hợp không may bị phơi nhiễm, người trong cuộc rất lo lắng sợ hãi, bối rối, không biết xử trí thế nào, việc xử trí sau phơi nhiễm có ý nghĩa đặc biệt, giúp hạn chế được những nguy cơ lây nhiễm HIV.


Nên bắt đầu phòng ngừa sau phơi nhiễm càng sớm càng tốt, tốt nhất trong vòng hai giờ đầu. Thậm chí ngay cả khi không phòng ngừa được nhiễm HIV, điều trị sớm nhiễm HIV có thể làm nhẹ các triệu chứng và làm chậm sự xuất hiện của AIDS. Nếu phơi nhiễm cần phải được xử lý, vẫn bắt đầu phòng ngừa sau phơi nhiễm ngay cả khi thời gian sau phơi nhiễm đã vượt quá 36 giờ. Bắt đầu trị liệu trễ sau khi phơi nhiễm (ví dụ một, hai tuần) có thể được xét đến đối với các phơi nhiễm có nguy cơ cao. 
Điều trị dự phòng sau phơi nhiễm phải kéo dài trong 4 tuần. Phác đồ điều trị có thể là phác đồ cơ bản hoặc phác đồ mở rộng.
Phác đồ điều trị phơi nhiễm với tổn thương xuyên da.

Phác đồ DTSPN cơ bản 2 thuốc
Zidovudine 600mg/ngày (300mg, 2 lần/ngày, hoặc 200mg, 3 lần/ngày, hoặc 100mg mỗi 4 giờ) và lamivudine 150mg, 2 lần/ngày. COMBIVIR hoặc LAMZIDIVIR là dạng phối hợp hai thuốc nói trên, liều dùng 2 viên/ngày 
Phác đồ DTSPN mở rộng 3 thuốc:
Phác đồ cơ bản cộng indinavir 800mg mỗi 8 giờ hoặc nelfinavir 750mg, 3 lần/ngày.
Phác đồ điều trị với tổn thương sau phơi nhiễm với tổn thương da không lành lặn.

Phác đồ DTSPN cơ bản 2 thuốc
Zidovudine 600mg/ngày (300mg, 2 lần/ngày, hoặc 200mg, 3 lần/ngày, hoặc 100mg mỗi 4 giờ) và lamivudine 150mg, 2 lần/ngày. COMBIVIR hoặc LAMZIDIVIR là dạng phối hợp hai thuốc nói trên, liều dùng 2 viên/ngày 
Phác đồ DTSPN mở rộng 3 thuốc:
Phác đồ cơ bản cộng indinavir 800mg mỗi 8 giờ hoặc nelfinavir 750mg, 3 lần/ngày

Theo dõi sau phơi nhiễm: Xét nghiệm người bị phơi nhiễm và bệnh nhân nguồn để biết tình trạng huyết thanh học vào thời điểm phơi nhiễm đối với kháng thể kháng HIV.

Nếu bệnh nhân nguồn âm tính với HIV, không cần thiết xét nghiệm theo dõi tiếp theo.

Nếu bệnh nhân nguồn dương tính với HIV, cần tham vấn theo dõi, xét nghiệm sau phơi nhiễm, và đánh giá bệnh dù có điều trị phòng ngừa sau phơi nhiễm hay không. Xét nghiệm ELISA tìm kháng thể HIV nên được thực hiện vào lúc 6, 12 tuần và 6 tháng sau phơi nhiễm. Việc dùng các xét  nghiệm trực tiếp (kháng nguyên HIV p24 EIA hoặc HIV PCR RNA) để phát hiện HIV nói chung không được khuyến cáo. Một số tình huống cần theo dõi 12 tháng như: cần dùng các phác đồ chống retrovirus mở rộng  hoặc phơi nhiễm cùng lúc với HCV. Nên xét nghiệm HIV ngay nếu nhân viên y tế có hội chứng retrovirus cấp, bất kể thời gian kể từ khi bị phơi nhiễm. Nếu dùng thuốc chống virus để trị liệu phòng ngừa, cần phải được kiểm tra công thức máu và xét nghiệm chức năng thận và gan ngay trước khi bắt đầu trị liệu và 2 tuần sau khi trị liệu.

Trong giai đoạn theo dõi, đặc biệt trong 6-12 tuần đầu: Không cho máu, tich dịch hoặc phủ tạng và không được giao hợp, phụ nữ nên tránh cho con bú.Báo cáo bất kỳ một bệnh nào giống như cúm đột nhiên xuất hiện và nặng xảy ra sau đó, đặc biệt khi có sốt phát ban, đau cơ, mệt mỏi, khó chịu, và sưng các hạch.

Nguồn tổng hợp

Chú ý: Mọi thắc mắc về vấn đề sức khỏe, các bạn hãy gọi về tổng đài tư vấn sức khỏe 1900.6180 để nhận được sự hỗ trợ của các chuyên gia.