yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Biến chứng của tránh thai bằng dụng cụ tử cung ( DCTC).  12:03 28/03/2013

Hiện nay việc sử dụng DCTC là một BPTT khá phổ biến và tiện dụng. Tuy nhiên, việc đặt DCTC không thể tùy tiện mà phải tuân theo chỉ dẫn của các bác sỹ vì DCTC là một BPTT.. [..]

 Đau tiểu khung:

Hay gặp do tử cung có cơn co, dùng thuốc giảm đau có hiệu quả tốt . đôi khi DCTC quá to , tử cung có bóp có xu hướng tống DCTC ra ngoài,

Thống kinh:

có thể gặp ở người mang DCTC bất hoạt  hay DCTC có đồng vì liên quan đến nồng độ prostaglandin cao. Gặp trường hợp này có thể đổi loại DCTC  nhiều khi có kết quả.

Rối loạn kinh nguyệt:

là nhược điểm hay gặp nhất , chiếm 10-15% số trường hợp buộc phải tháo DCTC trong năm đầu sau khi đặt . rối loạn biểu hiện bằng ra nhiều máu kinh , kéo dài, đôi khi có cả ra máu giữa chu kì kinh. Có nhiều nguyên nhân gây ra máu : chấn thương niêm mạc tử cung, thay đổi cơ chế tại chỗ và đông máu, rối loạn tính thấm thành mạch , niêm mạc tử cung chín không đều…

Điều trị có thể bằng thuốc chống tiêu sợi huyết ,  thuốc bảo vệ thành mạch và thuốc ức chế prostaglandin.

Nếu không tốt lên , người ta có thể tháo DCTC và thay thế bằng một DCTC khác phù hợp hơn với tử cung hay bằng DCTC có progestatif sau khi loại trừ nhiễm khuẩn và có thai. Định lượn HCG huyết tương rất có lợi khi vẫn còn tồn tại ra máu bất thường.

Tụt DCTC

Tỷ lệ tụt DCTC là từ 5-20 người cho 100 phụ  nữ trong năm đầu đặt DCTC.

Tụt DCTC có liên quan đến số lần đẻ, tuổi của người mang DCTC dưới 30 tuổi, kinh nghiệm của người đặt DCTC , loại DCTC và thời điểm đặt DCTC ( sau đẻ).

Tụt DCTC hầu hết xảy ra trong vòng 3 tháng đầu tiên sau khi đặt.

1/5 số trường hợp không biết bị tụt DCTC . tụt DCTC có thể là hoàn toàn hay 1 phần. tụt 1 phần là DCTC nằm ở eo tử cung.

Nghĩ đến chẩn đoán khi không thấy dây DCTC . siêu âm cho phép khẳng định chẩn đoán. Điều trị là đặt 1 DCTC khác có tỷ lệ tụt thấp hơn.

Thủng DCTC

Tỷ lệ thủng tử cung là thấp 1,2/1000 phụ nữ đặt DCTC. Thủng tử cung có liên quan đến:

-          Nguyên nhân ở tử cung: con rạ đẻ nhiều lần, có sẹo mổ cũ, trong thời gian hậu sản sau đẻ, tư thế tử cung quá gập trước hay quá đổ sau, tử cung kém phát triển.

-          Kỹ thuật đặt DCTC

-          Kinh nghiệm của người đặt DCTC

Thường bị thủng DCTC ngay lúc đặt, có thể đau nhiều hay không có triệu chứng.

Nghi ngờ chẩn đoán khi khám lâm sàng không thấy dây DCTC nằm trong lớp cơ. Nếu không thấy DCTC ở trong tử cung , chụp bụng không chuẩn bị sẽ xác định vị trí của DCTC.

Điều trị là lấy DCTC

-          Trường hợp thủng không hoàn toàn , soi buồng tử cung và dùng móc hoặc kìm để lấy.

-          Trường hợp thủng hoàn toàn , phải dùng nội soi lấy DCTC . có trường hợp nội soi không lấy được vì phản ứng viêm của phúc mạc , mạc nối bao quanh, thì phải mổ bụng để lấy.

Nhiễm khuẩn sinh dục:

Nhiễm khuẩn sinh dục là một biến chứng nặng nề vì có thể gây vô sinh. Tỷ lệ mắc thay đổi tùy theo thống kê từ 3-9%.

Những phụ nữ có nguy cơ cao là trẻ tuổi dưới 25 tuổi, chưa sinh đẻ nhưng có quan hệ tình dục với nhiều người.

Nguy cơ nhiễm khuẩn ở người mang DCTC cao hơn những người dùng viên tránh thai hay những người không dùng biện pháp tránh thai.

Bệnh sinh của nhiễm khuẩn là do vai trò của vi chấn thương, thay đổi viêm của niêm mạc tử cung, dây của DCTC đã phá vỡ hàng rào ngăn cách cổ tử cung m đôi khi còn là yếu tố dẫn truyền nhiễm khuẩn.

Viêm niêm mạc là giai đoạn nhiễm khuẩn đầu tiên. Vi khuẩn gây bệnh có thể là kỵ khí hay yếm khí, thường là bệnh ký sinh ở âm đạo. cần nhấn mạnh vai trò của lậu cầu, Chlamydia, liên cầu tan huyết B và trường hợp nhiễm vi khuẩn phối hợp cùng gây bệnh.

Nhiễm khuẩn có thể xuất hiện sau đặt DCTC vài ngày( không đảm bảo vô khuẩn, bỏ qua nhiễm khuẩn tiềm tang) hay xuất hiện muộn sau này.

Đa số trường hợp, khởi đầu là kín đáo với các dấu hiệu báo trước như: đau tiểu khung, sốt nhẹ, rong huyết…. chỉ định dùng kháng sinh phối hợp ampixilin-aminoglycosid và metronidazol. Các rối loạn nhanh chóng mất đi ở số đông trường hợp , nếu còn tồn tại thì phải tháo DCTC , gửi xét nghiệm cấy vi khuẩn.

Ở giai đoạn toàn phát , có thể gặp nhiều bệnh cảnh như: viêm vòi trứng, áp xe buồng trứng, viêm phúc mạc tiểu khung.

Thất bại

Phải tư vấn cho người mang  DCTC hiểu các nguy cơ dù là rất thấp, với mọi loại DCTC ,đặc biệt là nguy cơ có thai để họ nhanh chóng đi khám mỗi khi có bất thường như rong kinh , mất kinh.

Có thai trong tử cung.

Có thai trong tử cung cùng DCTC gặp với tỷ lệ 0,5-5 cho 100 phụ nữ- năm. Có nhiều yếu tố ảnh hưởng như tuổi, số lần đẻ, loại DCTC , thời gian đặt, người đặt.

Có thể có thai ở vị trí bình thường hay bất thường.

Nguy cơ sảy thai là 50%. Khi sảy thai nguy cơ nhiễm khuẩn là cao, đặc biệt là sảy thai quí II.

Trong trường hợp muốn giữ thai, có thể lấy DCTC nếu thấy dễ dàng.

Chửa ngoài tử cung

Người mang DCTC có nguy cơ bị chửa ngoài tử cung cao gấp 4-5 lần so với người không mang DCTC. Điều đó cho thấy DCTC có tác dụng không cho thai làm tổ trong tử cung nhưng không ngăn được thai làm tổ ở ngoài tử cung. Tuy nhiên không có 1 nghiên cứu nào chứng minh DCTC làm dễ dàng bị chửa ngoài tử cung.Chửa ngoài tử cung thay đổi tùy theo yếu tố tuổi, tiền sử viêm nhiễm tiểu khung, rối loạn kinh nguyệt… vì vậy không nên dùng DCTC cho người có nguy cơ cao bị chửa ngoài tử cung.

 

Trên đây là những thông tin  mà các bạn có thể tham khảo, để biết  thêm chi tiết và được hứơng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 1900.6180 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.


Bs Vũ Trà