yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Dấu hiệu của bệnh buồng trứng đa nang?  08:09 17/09/2014

Buồng trứng đa nang có một lớp vỏ dày chắc và không có sẹo phóng noãn. Do vỏ buồng trứng dày, hằng tháng, các nang trứng không thể lớn lên nhiều, cũng như không thể phá v.. [..]

Buồng trứng đa nang có một lớp vỏ dày chắc và không có sẹo phóng noãn. Do vỏ buồng trứng dày, hằng tháng, các nang trứng không thể lớn lên nhiều, cũng như không thể phá vỡ lớp vỏ dày để có hiện tượng phóng noãn.



Hội chứng buồng trứng đa nang được xem là bệnh lý của thời đại chúng ta. Rõ ràng là hội chứng buồng trứng đa nang là một tình trạng rối loạn nội tiết phổ biến nhất (chiếm 15 – 20%) ở phụ nữ và có vẻ đang có chiều hướng gia tăng. Biểu hiện các triệu chứng cơ năng và thực thể của các phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang rất khác nhau, và ở một cá nhân, các biểu hiện cũng thay đổi theo thời gian.


Biểu hiện nặng nhất đã từng được gọi là hội chứng Stein – Leventhal, gồm cường androgen (rậm lông, mụn trứng cá, rụng tóc và testosterone huyết thanh tăng), rối loạn kinh nguyệt nặng (vô kinh hoặc kinh thưa) và béo phì. Ngày nay chúng ta cũng thấy buồng trứng đa nang có thể không biểu hiện triệu chứng lâm sàng nào. Hội chứng buồng trứng đa nang có tính chất gia đình, và những đặc tính khác nhau của hội chứng có thể được di truyền khác biệt.


Có một số yếu tố liên kết tác động lên sự biểu hiện của hội chứng buồng trứng đa nang. Tăng cân có thể kết hợp làm nặng thêm các triệu chứng trong khi giảm cân thì cải thiện tình trạng nội tiết và chuyển hóa và triệu chứng học của hội chứng. Chức năng buồng trứng bình thường dựa trên sự chọn lọc một nang noãn , đáp ứng với một tín hiệu thích hợp (hormone kích thích nang noãn, FSH) để tăng trưởng, trở thành nang vượt trội và phóng noãn. Cơ chế này bị rối loạn ở phụ nữ có hội chứng buồng trứng đa nang, kết quả là có nhiều nang nhỏ, hầu hết chứa những trứng sống nhhưng trong các nang rối loạn chức năng.


1. Vô sinh


2. Rối loạn kinh nguyệt


3. Rậm lông, mụn trứng cá, và rụng tóc


4. Tăng nguy cơ ung thư nội mạc tử cung; nguy cơ nghi ngờ về ung thư vú


5. Tăng nguy cơ bệnh lý tim mạch


6. Tăng nguy cơ tiểu đường


Rối loạn kinh nguyệt:


Rối loạn kinh nguyệt khi phối hợp với buồng trứng đa nang và/hoặc cường androgen đưa đến không hoặc phóng noãn thưa, liên quan nhiều nhất đến tình trạng vô sinh ở những bệnh nhân này.


Kinh thưa: chu kỳ kinh 35 ngày đến 6 tháng


Vô kinh: không có kinh từ 6 tháng trở lên


Đa kinh: có kinh nhiều hơn 1 lần trong 21 ngày. Kiểu hành kinh này thường liên quan với không phóng noãn.


Các chu kỳ kinh bình thường: chu kỳ kinh trong khoảng 22 – 35 ngày và các chu kỳ không chênh lệch quá 2 – 3 ngày.


Trong số phụ nữ có buồng trứng đa nang trên siêu âm, 29,7% có kinh đều, 47% kinh thưa, 19,2% vô kinh, 2,7% đa kinh và 1,4 % có cường kinh.


Sự hiện diện và mức độ nặng của rối loạn kinh nguyệt có liên quan với một số yếu tố. Các yếu tố này bao gồm: béo phì, đề kháng với Insuline, lượng androgen huyết thanh và lượng LH, và kích thước đoàn hệ noãn.


Chu kỳ kinh đều chiếm 32% các phụ nữ có buồng trứng đa nang và BMI < 30kg/m2, ngược lại, chỉ có 22% phụ nữ có buồng trứng đa nang và BMI >30 có kinh đều. Tính nhạy cảm với Insulin giảm đáng kể trong nhóm phụ nữ hội chứng buồng trứng đa nang có kinh thưa so với nhóm phụ nữ hội chứng buồng trứng đa nang nhưng kinh đều, và so với nhóm phụ nữ có buồng trứng bình thường. Vì thế sự kết hợp giữa mất nhạy cảm Insulin và buồng trứng đa nang có liên quan với không phóng noãn và kinh không đều. Đặc tính rối loạn kinh nguyệt có thể có liên quan với mức độ nhạy cảm Insulin hoặc chế tiết Insulin.


Nồng độ LH cao cũng có liên quan đến kinh nguyệt không đều. Trong một nghiên cứu trên 1741 phụ nữ có buồng trứng đa nang trên siêu âm, nhóm có LH > 10IU/l có rối lọan kinh nguyệt tăng đáng kể so với nhóm có LH < 10IU/l. Ở vị thành niên, tăng tiết LH là đặc điểm thường gặp nhất ở những người kinh thưa và/hoặc cường androgen.

 

Nguồn tổng hợp


Chú ý:Trên đây là những thông tin bạn có thể tham khảo, nếu có thắc mắc về vấn đề sức khoẻ, tâm lý, hãy gọi đến tổng đài 1900.6180 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.