yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Những điều cần biết về bệnh tay- chân- miệng  10:04 02/04/2015

Bệnh tay chân miệng (hand foot mouth disease: HFMD) là một bệnh nhiễm trùng thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, đau miệng, .. [..]

Bệnh tay chân miệng (hand foot mouth disease: HFMD) là một bệnh nhiễm trùng thường gặp ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ. Dấu hiệu đặc trưng của bệnh là sốt, đau họng, đau miệng, loét miệng với vết loét đỏ hay phỏng nước ở niêm mạc miệng, lợi, lưỡi; phát ban dạng phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông.


1. Nguyên nhân và đường lây truyền

Bệnh tay chân miệng là bệnh truyền nhiễm lây từ người sang người, bệnh lây truyền qua đường "phân - miệng" và tiếp xúc trực tiếp, nhưng chủ yếu lây lan qua tiếp xúc trực tiếp với dịch tiết từ mũi, hầu, họng, nước bọt, dịch tiết từ các nốt phỏng hoặc tiếp xúc với chất tiết và bài tiết của bệnh nhân trên dụng cụ sinh hoạt, đồ chơi, bàn ghế, nền nhà,.... Đặc biệt khi bệnh nhân mắc bệnh đường hô hấp, thì việc hắt hơi, ho, nói chuyện sẽ tạo điều kiện cho vi rút lây lan trực tiếp từ người sang người. Bệnh dễ gây thành dịch do virus đường ruột gây ra. Hai nhóm tác nhân gây bệnh thường gặp là Coxsackie virus A16 và Enterovirus 71 (EV71) (2, 6). Bệnh do EV71 thường gây các biến chứng thần kinh nặng và có thể dẫn đến tử vong.

2.Triệu chứng lâm sàng

Giai đoạn ủ bệnh: 3 - 6 ngày.

Giai đoạn khởi phát: Sau thời gian ủ bệnh 3 - 6 ngày bệnh thường khởi phát với các triệu chứng như sốt nhẹ, đau họng, biếng ăn, ỉa lỏng vài lần trong ngày, trẻ kém linh hoạt.

Giai đoạn toàn phát: Sau 1- 2 ngày trẻ sẽ nhanh chúng xuất hiện các triệu chứng điển hình của bệnh với biểu hiện phát ban ở các vị trí đặc hiệu và loét miệng. Trường hợp nặng với các biểu hiện biến chứng thần kinh và tim mạch. Loét miệng: vết loét đỏ hay phỏng nước đường kính 2- 3 mm ở niêm mạc mỏ, lợi, lưỡi. Đồng thời xuất hiện phỏng nước ở lòng bàn tay, lòng bàn chân, gối, mông; tồn tại trong thời gian ngắn (dưới 7 ngày) sau đó để lại vết thâm. Khi trẻ sốt cao, nụn nhiều là dấu hiệu nặng, nguy cơ biến chứng. Biến chứng thần kinh, tim mạc, hụ hấp thường xuất hiện sớm từ ngày 2 đến ngày 5 của bệnh.

Giai đoạn lui bệnh: Thường sau 7 - 10 ngày trẻ thường hồi phục hoàn toàn, không hoặc ít di chứng.

3. Điều trị

Hiện nay chưa có thuốc điều trị đặc hiệu nên chủ yếu là điều trị hỗ trợ, theo dõi sốt, phát hiện sớm và điều trị biến chứng, đảm bảo dinh dưỡng đầy đủ và vệ sinh răng miệng.

Bệnh chủ yếu điều trị ngoại trú tại nhà, khám lại ngay khi có dấu hiệu nặng (2): Sốt cao ≥ 39ºC, thở yếu, giật mình, chới với, run chi, quấy khóc, bứt rứt khó ngủ, yếu hay liệt các chi, co giật hay hôn mê. Immunoglobulin chỉ sử dụng trong những trường hợp cần thiết có sự chỉ định của bác sĩ. Kháng sinh không có chỉ định trong bệnh tay- chân- miệng. Có thể sử dụng kháng sinh khi chúng ta không loại trừ nhiễm khuẩn huyết, viêm màng não mủ hoặc có bội nhiễm các vi khuẩn. Sử dụng kháng sinh dựa vào phỏng đoán lâm sàng về vi khuẩn gây bội nhiễm hoặc kết quả kháng kháng sinh để lựa chọn cho phù hợp.

4. Phòng bệnh

Hiện tại chưa có vacxin phòng bệnh đặc hiệu, nên các biện pháp phòng bệnh chủ yếu sử dụng các biện pháp phòng bệnh phổ cập, áp dụng phòng bệnh cho bệnh lây qua đường tiếp xúc.

Tại cộng đồng chúng ta cần thực hiện các biện pháp phòng bệnh như: Vệ sinh cá nhân, rửa tay bằng xà phòng (đặc biệt sau khi thay quần áo, tó, sau khi tiếp xúc với phân, nước tiểu, nước bọt). Rửa sạch đồ chơi, vật dụng, sàn nhà. Cách ly trẻ bệnh tại nhà. Khi trẻ bị bệnh không đưa trẻ đến nhà trẻ, trường học trong tuần đầu tiên của bệnh. Tại các cơ sở y tế chúng ta cần thực hiện: Cách ly trẻ theo nhóm bệnh. Nhân viên y tế phải mang khẩu trang, rửa tay trước và sau khi chăm sóc trẻ bị bệnh. Vệ sinh bề mặt, giường bệnh và xử lý chất thải theo quy trình phòng bệnh lây qua đường tiếp xúc.

Nguồn: Bệnh viện bạch mai

Chú ý: Trên đây là những thông tin mà các bạn có thể tham khảo, để biết thêm chi tiết và được hướng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 1900.6180 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ