yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Chẩn đoán và điều trị bệnh động kinh  12:11 22/11/2012

Mục đích của điều trị động kinh là loại bỏ cơn, đưa bệnh nhân trở về với sinh hoạt bình thường. Tất cả các thuốc kháng động kinh chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng, làm.. [..]

 

Chẩn đoán

Chẩn đoán xác định cơn động kinh dựa vào chứng kiến cơn của thầy thuốc hoặc dựa vào sự mô tả cơn của người nhà hay nhân chứng xung quanh bệnh nhân.

Cần chẩn đoán phân biệt cơn ĐK với các bệnh lý khác:

- Cơn hysteria: là bệnh loạn thần kinh chức năng do căn nguyên tâm lý, cơn thường xuất hiện chỗ đông người, không có tính chất định hình, động tác hỗn độn khác với trong cơn giật. Trong cơn mắt nhắm chặt có khi chớp nhanh, lấy bông quẹt vào giác mạc bệnh nhân phản ứng nhắm mắt lại. Thời gian lên cơn dài có khi nhiều giờ.

- Cơn ngất: Mất ý thức ngắn, trước đó BN có triệu chứng tái mặt, buồn nôn, vã mồ hôi. Một số trường hợp bệnh nhân không mất ý thức (thỉu). Ngất do ngừng tim tạm thời hoặc do hạ huyết áp đột ngột. Đôi khi ngất kèm theo co giật còn gọi là ngất - co giật.

- Cơn loạn nhịp tim chậm: cơn kéo dài có thể dẫn đến mất ý thức, giật, tím tái, mất phản xạ đồng tử và có dấu hiệu Babinski. Di chứng thần kinh tùy thuộc tổn thương não do thiếu máu.

- Cơn migraine (cơn migraine phối hợp rối loạn vận động và cảm giác nửa người).

- Hạ đường máu: có thể gây nên mất ý thức thực sự, đôi khi giống như cơn động kinh nhưng hoàn cảnh xuất hiện bệnh rất đặc biệt và trước đó BN có cảm giác đói, bủn rủn, vã mồ hôi, tái mặt. Hạ đường máu hay gặp trên BN điều trị insulin quá liều.

- Thiếu máu não cục bộ thoảng qua: xảy ra đột ngột liệt nửa người hoặc thất ngôn hoặc mất thị lực một mắt, khỏi trong ít phút đến 24 giờ, thời gian tồn tại liệt thường kéo dài và ít khi rối loạn ý thức lúc khởi đầu.

Ðiều trị động kinh như thế nào?

Mục đích của điều trị động kinh là loại bỏ cơn, đưa bệnh nhân trở về với sinh hoạt bình thường. Tất cả các thuốc kháng động kinh chỉ có tác dụng điều trị triệu chứng, làm giảm hoạt động ức chế của acide gamma - aminobutyrique (GABA) ở vỏ não, giảm hoạt động hưng phấn của Glutamate hoặc Aspartate, tác dụng trực tiếp thay đổi những dòng ion ở màng tế bào thần kinh.

Thuốc kháng động kinh cổ điển:

Valproate de sodium (depakine), carbamazepine (tegretol): Thuốc có tác dụng tốt đối với động kinh cục bộ, phenytoine (dihydan, dilantin tiêm tĩnh mạch), phenobarbital (gardenal alepsal; ortenal), benzodiazepam (seduxen 10 mg; valium 10mg): Thuốc có tác dụng đối với một vài thể động kinh, chỉ được sử dụng trong giai đoạn cấp (trạng thái động kinh, sốt cao co giật ở trẻ em, hội chứng Lennox-Gastaut...), sau chuyển sang thuốc kháng động kinh khác tùy thuộc từng loại cơn. Thuốc có thể gây ngừng thở do ức chế trung tâm hô hấp; ethosuximide (zarontin) có tác dụng tốt trên các cơn vắng ý thức điển hình nhưng ít tác dụng đối với những thể khác của ĐK.

Tác dụng ngoại ý của các thuốc kháng ĐK cổ điển chủ yếu là rối loạn sự thức tỉnh và tổn thương chức năng nhận thức là những tác dụng ngoại ý hay gặp nhất (trừ valproate và carbamazepine); Tất cả các thuốc đã kể trên đều là những chất cảm ứng men (có thể gây khử hoạt tính của thuốc tránh thai) trừ valproate, ethosuximide và benzodiazepine; Tất cả các thuốc kháng ĐK có thể gây ra các tác động riêng trên từng cá thể như bệnh da nhiễm độc, viêm gan, thiểu sản tủy (tác dụng đặc ứng) không báo trước, không liên quan đến liều, hiếm gặp nhưng thường nặng. 

Thuốc kháng động kinh thế hệ mới:

Gabapentin (neurontin): Thuốc có tác dụng tốt với cơn động kinh cục bộ; không có tác dụng trên cơn toàn thể, cơn vắng ý thức, cơn giật cơ; Lamotrigine:Thuốc có tác dụng tốt đối với thể ĐK cục bộ; Oxacarbamazepine (trileptal): Thuốc có tác dụng kháng động kinh tương tự như carbamazepine nhưng ít tác dụng phụ hơn; levetiracetam.

Ưu điểm của thuốc kháng động kinh thế hệ mới: Cơ chế tác dụng đa dạng; Dược lực học tốt hơn và ít tương tác thuốc; An toàn và dung nạp tốt; Không có tác dụng phụ nghiêm trọng trên gan và huyết học; Ít hoặc không gây suy giảm nhận thức.

Nguyên tắc sử dụng thuốc kháng động kinh: Chỉ sử dụng thuốc kháng động kinh khi đã chẩn đoán chắc chắn là ĐK; Chọn thuốc phù hợp cho từng loại cơn; Liều lượng thuốc theo thể trạng của bệnh nhân và theo thể lâm sàng của ĐK; Dùng một loại thuốc tăng dần tới liều điều trị (nếu không có hiệu quả sẽ thay dần sang loại thứ hai, không dừng hay thay đổi thuốc đột ngột), khi thất bại đơn trị liệu mới sử dụng đa trị; Thuốc phải được uống hàng ngày, số lần uống phụ thuộc vào thời gian bán hủy của thuốc, dùng đủ liều và đủ thời gian; Theo dõi hiệu quả và tác dụng không mong muốn của thuốc; Không kết hợp hai loại thuốc trong cùng một nhóm (phenobarbital và primidon); Có kế hoạch định kỳ kiểm tra công thức máu, chức năng gan thận và khám lâm sàng; Bệnh nhân cần có chế độ ăn uống, làm việc và sinh hoạt hợp lý; Mỗi bệnh nhân cần phải có một quyển sổ ghi chép diễn biến bệnh và diễn biến liên quan đến điều trị.

Chú ý: Phổ biến kiến thức về động kinh giúp bệnh nhân và người thân nhận thức được tầm quan trọng của việc theo dõi và điều trị, đưa bệnh nhân trở về với cuộc sống đời thường. Hãy gọi cho tổng đài tư vấn sức khỏe 1900.6180 để được tư vấn về bệnh giúp tăng cường sức khỏe.