yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Nhiễm trùng tiết niệu - bệnh lý dễ mắc phải của thai phụ (P1)  09:12 05/12/2014

Nhiễm trùng tiết niệu là bệnh lý nhiễm trùng do vi trùng, thường xảy ra, nhất là trong lúc mang thai. Mặc dù thai kỳ không có khuynh hướng làm gia tăng các yếu tố động lự.. [..]

Nhiễm trùng tiết niệu là bệnh lý nhiễm trùng do vi trùng, thường xảy ra, nhất là trong lúc mang thai. Mặc dù thai kỳ không có khuynh hướng làm gia tăng các yếu tố động lực của vi trùng nhưng tình trạng giãn nở đường niệu, trào ngược bàng quang niệu quản, phối hợp với sự căng trướng bàng quang do chuyển dạ kéo dài, sau gây tê tủy sống hoặc ngoài màng cứng, tình trạng kháng lợi niệu sau sanh khi ngưng dùng Oxytocin và đặt thông tiểu sẽ thúc đẩy thêm quá trình nhiễm trùng.


Nhiễm trùng tiết niệu gặp ở nữ nhiều hơn nam (gấp 14 lần). Ngoài ra còn có yếu tố nguy cơ bị nhiễm trùng tiết niệu khác như bệnh hồng cầu hình liềm và tiểu đường.

Nhiễm trùng tiết niệu có liên quan đến sinh non, sự gia tăng tỷ lệ tử vong cho thai và chậm phát triển thời thơ ấu.

1.Sinh bệnh học nhiễm trùng tiết niệu và thai kỳ

- Những thay đổi về cơ thể và sinh lý trong lúc mang thai có thể giúp cho nhiễm trùng tiết niệu dễ dàng xảy ra:

+ Thận ứ nước sinh lý: hiện tượng này là do sự phối hợp các yếu tố cơ học và nội tiết. Hiện tượng ứ nước rõ hơn ở thận phải.

Hai quả thận gia tăng thể tích: dài thêm khoảng 1 cm và nặng thêm khoảng 4,5 g. Đài thận và bể thận giãn.

+ Khi có thai, tử cung nghiêng về bên phải, đè vào niệu quản vùng chậu làm giãn nở phần trên và khi tử cung lớn lên có thể chèn ép niệu quản, bàng quang bị đẩy lên trên ra trước, niệu quản bị kéo dài làm cho dòng nước tiểu không lưu thông dễ dàng, tiểu không hết. Đến cuối thai kỳ, đầu thai nhi lại đè vào bàng quang nên không thể làm rỗng bàng quang hoàn toàn mỗi khi tiểu, càng làm cho dòng nước tiểu khó lưu thông, ứ đọng, tạo thuận lợi cho vi trùng phát triển trước khi bị thải ra ngoài.

Ngoài vấn đề niệu quản giãn nhẹ do sức ép của thai nhi, có thể có hiện tượng trào ngược bàng quang – niệu quản. Hiện tượng này sẽ kéo dài đến 3 tháng sau sanh.

+ Dưới tác dụng của Progesterone, nhu động niệu quản và ruột giảm gây dẫn lưu nước tiểu kém và táo bón.

Vi trùng gây bệnh thường là trực trùng đường ruột nhất là E. coli, do táo bón xâm nhập qua máu tới thận rồi vì ứ đọng và dẫn lưu nước tiểu kém trở nên dễ gây bệnh nhiễm trùng tại chỗ.

+ Thay đổi sinh lý hóa học của nước tiểu: nước tiểu trở nên kiềm hơn do gia tăng thải bicarbonate. Đường niệu và đạm niệu là các yếu tố tạo thuận lợi thêm cho vi khuẩn phát triển.

- Trong thời kỳ sau sinh, sự bí tiểu do phản xạ gây nên sau một thủ thuật sản khoa, do chấn thương sinh dục dưới, do dùng nhiều Oxytocin có tính chất chống lợi niệu trong lúc sanh, sau đó khi ngưng Oxytocin, nước tiểu thải ra nhanh… Tất cả những lý do này làm bàng quang căng to, gây ứ đọng nước tiểu và nhiễm trùng lại càng dễ xảy ra nếu có dùng thông tiểu để thoát nước tiểu.

2.Vi sinh gây bệnh:

- Vi trùng gây nhiễm trùng niệu thường là những chủng thường trú ở vùng tầng sinh môn, E.coli là tác nhân gây nhiễm trùng tiết niệu trong 80 – 90% trường hợp.


- Các vi trùng gram âm như Klebsiella, Proteus, Enterobacter và Pseudomonas.

- Nhiễm trùng qua đường giao hợp như Chlamydia trachomatis (chú ý trong trường hợp này cấy nước tiểu âm tính), Neisseria Gonorrhae.

- Streptococcus nhóm B và Staphylococcus saprophyticus.

Các vi trùng này từ vùng hậu môn, âm đạo xâm nhập vào bàng quang qua niệu đạo, nhiễm trùng khu trú ở đó gọi là nhiễm trùng niệu đạo. Tiếp theo, vi trùng di chuyển đến bàng quang gây viêm bàng quang và cuối cùng lan đến thận qua đường niệu quản gây viêm thận – bể thận.

3.Các biểu hiện nhiễm trùng tiết niệu:

Nhiễm trùng tiết niệu xuất hiện dưới nhiều dạng từ một nhiễm trùng niệu không triệu chứng đến một nhiễm trùng thật sự có triệu chứng liên quan tới từng phần của hệ tiết niệu như viêm bàng quang, viêm đài bể thận, viêm thận. Mỗi dạng đều có thể là ổ nhiễm trùng nguyên phát và có thể có sẵn trước khi mang thai hoặc xảy ra do thai kỳ.

* Nhiễm trùng niệu không triệu chứng

Nhiễm trùng niệu không triệu chứng (không có triệu chứng lâm sàng) chiếm tỷ lệ 4 – 7% trong thai kỳ. Tỷ lệ thay đổi theo số lần sanh và điều kiện kinh tế xã hội: sanh nhiều lần, nghèo hay gặp nhất.

Phát hiện được nhiễm trùng niệu không triệu chứng nhờ xét nghiệm tổng phân tích nước tiểu tầm soát cho các thai phụ; cấy nước tiểu giữa dòng khi có tiểu mủ, khuẩn niệu hoặc nitrite.

Nhiễm trùng niệu không triệu chứng là khi cấy định lượng có sự hiện diện của trên 100.000 vi trùng/ml nước tiểu trong 2 mẫu liên tiếp nước tiểu được lấy sạch giữa dòng.

(Lưu ý cách lấy nước tiểu giữa dòng: rửa sạch âm hộ, tiểu vào trong lọ chứa vô trùng sau khi bỏ đi vài ml đầu và cuối của nước tiểu.)

Nhiễm trùng niệu không triệu chứng có ý nghĩa lâm sàng đặc biệt quan trọng, nhất là trên cơ địa tiểu đường, tiền căn nhiễm trùng tiết niệu:

- Đối với mẹ:

+ Nếu không điều trị, khoảng 25 – 40% các trường hợp sẽ tiến triển đến nhiễm trùng có triệu chứng cấp tính. Mặc dù không phải tất cả nhiễm trùng niệu không triệu chứng đều sẽ chuyển sang nhiễm trùng niệu có triệu chứng nhưng nếu có điều trị tình trạng này bớt xảy ra hơn.

+ 30 – 50% nhiễm trùng niệu không triệu chứng phát triển thành viêm đài bể thận trong thai kỳ, 15 – 20% sau khi sinh.

- Đối với thai: sẩy thai, đẻ non (16%); suy dinh dưỡng (14%).

Nên tầm soát nhiễm trùng niệu không triệu chứng bằng cách cấy nước tiểu ít nhất 2 lần trong thai kỳ: một lần ngay khi khám thai phụ lần đầu và một lần trong ba tháng cuối của thai kỳ.

* Nhiễm trùng niệu có triệu chứng:

- Viêm bàng quang niệu đạo: Tiểu buốt, tiểu dắt, tiểu đau, nặng có thể tiểu máu

- Viêm đài bể thận cấp: Sốt cao, đau tức thắt lưng, đái đục kèm tiểu buốt, tiểu dắt.

- Viêm đài bể thận mãn: đau thắt lưng, tiểu nhiều lần, giai đoạn muộn thiểu niệu hoặc vô niệu.

Nhiễm trùng niệu có triệu chứng chiếm tỷ lệ khoảng 2% trong thai kỳ. Có thể gây những nguy cơ:

- Đối với mẹ:

Biến chứng nhiễm trùng huyết, choáng nhiễm trùng, suy thận cấp, suy gan thận đưa đến phải lấy thai khẩn cấp.

Sau khi sanh, biến chứng cần đề phòng là viêm đài bể thận mãn, nguyên nhân sau này của cao huyết áp và suy thận.

- Đối với thai:

Sinh non do nhiễm trùng niệu có tỷ lệ khoảng 20% mà nguyên nhân là sốt cao và lây nhiễm vi trùng qua đường nhau thai, dị tật bẩm sinh thai, thai chết.

Tầm soát nhiễm trùng niệu không triệu chứng sẽ giảm được các biến chứng này.


Xét nghiệm: có thể được bác sĩ đề nghị làm để hổ trợ chẩn đoán và theo dõi trong khi điều trị:

  • Tổng phân tích nước tiểu.
  • Công thức máu.
  • Điện giải trong máu.
  • Nồng độ creatinin.
  • Cấy nước tiểu.
  • Cấy máu

Nguồn: Tổng hợp

Chú ý: Trên đây là những thông tin  mà các bạn có thể tham khảo, để biết thêm chi tiết và được hướng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 1900.6180 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.