yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Stent mạch vành | Các loại stent mạch vành và lưu ý  02:07 22/07/2017

Đặt stent động mạch là một biện pháp can thiệp ở tim, giúp giải quyết tắc nghẽn của động mạch vành, làm giảm đau thắt ngực và điều trị nhồi máu cơ tim. [..]

Đặt stent động mạch là một biện pháp can thiệp ở tim, giúp giải quyết tắc nghẽn của động mạch vành, làm giảm đau thắt ngực và điều trị nhồi máu cơ tim. Stent là các ống đỡ động mạch được làm bằng lưới kim loại, giúp mở rộng những lòng mạch bị tắc hẹp và giúp làm giảm triệu chứng của bệnh mạch vành. Trong trường hợp mạch vành bị tắc hẹp nặng (thường trên 80% và không đáp ứng với thuốc điều trị), người bệnh sẽ cần được can thiệp động mạch vành.

Có bốn loại stent thường được sử dụng là: stent thường, stent phủ thuốc, stent tự tiêu và stent trị liệu kép.

1. Stent thường(BMS):

Stent thường là loại stent mạch vành thế hệ đầu được làm bằng kim loại trần, không có lớp phủ thuốc hay còn gọi là stent không phủ thuốc, chi phí rẻ (khoảng 17-22 triệu) nhưng nguy cơ tái hẹp cao. Khoảng 20-25% số người bệnh đặt stent thường bị tái hẹp lòng động mạch vành trong vòng 6 tháng sau khi đặt loại stent này.

Gợi ý trường hợp nên đặt stent thường (BMS)

- Bệnh nhân không thể dùng được hai loại thuốc chống ngưng kết tiểu cầu kéo dài trong ít nhất 1 năm

- Bệnh nhân có nguy cơ chảy máu cao

-  Bệnh nhân đang dùng thuốc chống đông đường uống kéo dài do bệnh lý khác

- Bệnh nhân cần phải phẫu thuật sớm (trong 1 năm sau đó) mà phải dừng thuốc chống ngưng kết tiểu cầu

- Bệnh nhân mà không thể đặt được DES do kỹ thuật hoặc bệnh nhân có mạch vành lớn (đường kính ≥ 3.5 mm), hoặc tổn thương ngắn (≤ 10 mm).


2. Stent phủ thuốc (DES):

Là loại stent đã được tráng một lớp thuốc đặc biệt. Sau khi đặt stent, lớp thuốc này sẽ được giải phóng từ từ vào lòng mạch, có tác dụng ngăn ngừa sự hình thành của các mô sẹo. Qua đó giúp cho lòng mạch luôn trơn nhẵn và không bị hẹp trở lại, làm giảm đáng kể tỉ lệ tái hẹp sau can thiệt động mạch vành. Tỉ lệ mạch vành bị tái hẹp trở lại sau khi dùng stent phủ thuốc thấp hơn đáng kể so với đặt stent thường, khoảng 10%. Giá của stent phủ thuốc khoảng 20 - 40 triệu đồng/stent. Stent phủ thuốc có 2 thế hệ; thế hệ thứ hai có những tiến bộ trong thiết kế hơn so với thế hệ thứ nhất.

Gợi ý những trường hợp nên đặt stent thuốc (DES)

- Là những trường hợp không nằm trong nhóm trên

- Tổn thương lần đầu

- Đường kính từ 2,5 – 3,5 mm; Độ dài < 30 mm

3. Stent tự tiêu (stent hấp thụ sinh học):

Là loại stent thế hệ mới được làm từ một khung polymer đặc biệt, có khả năng tự phân hủy và hòa tan hoàn toàn trong cơ thể sau 3 - 5 năm. Bên ngoài stent cũng được phủ một lớp thuốc giúp chống lại sự hình thành của các mô sẹo tại vị trí đặt stent. Loại stent này có giá thành cao (khoảng 40 - 50 triệu đồng/stent) nhưng có nhiều ưu điểm, giúp giảm thiểu tối đa nguy cơ bị tái hẹp sau đặt stent.

4. Stent trị liệu kép (DTS)

Đây là loại stent mạch vành mới nhất, là thế hệ đầu tiên trong dòng stent trị liệu. Stent trị liệu kép không chỉ làm giảm nguy cơ tái hẹp động mạch (giảm nguy cơ phải đặt stent lại) mà còn hỗ trợ quá trình chữa lành mạch vành. DTS kết hợp các lợi ích của stent phủ thuốc (Drug Eluting Stent, DES) và stent thiết kế sinh học (Bio-engineered Stent).

Nguy cơ sau đặt stent

1. Tái hẹp stent:

Nếu tái hẹp tiến triển, sẽ cần làm can thiệp đặt stent mới. Trong một số trường hợp, có thể phải tiến hành phẫu thuật bắc cầu động mạch vành để giải quyết vấn đề.

2. Tắc lại stent do huyết khối:

Do sự hình thành cục máu đông tại vị trí đặt stent, gây tắc hẹp đột ngột hoặc thậm chí là tắc nghẽn hoàn toàn mạch máu.

Để ngăn ngừa tái tắc hẹp mạch vành, người bệnh sau khi đặt stent cần phải uống thuốc đều đặn và liên tục: Thuốc chống kết tập tiểu cầu (chống đông máu) nên dùng tối thiểu 12 tháng và thuốc hạ mỡ máu nhóm statin.

>>>Các thông tin tham khảo thêm : Những ai có nguy cơ mắc bệnh mạch vành cao? , Dấu ấn di truyền trong việc điều trị bệnh lý tim mạch