yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Hiểu biết về ung thư cổ tử cung  09:05 14/05/2013

Bệnh ung thư cổ tử cung hình thành ở biểu mô cổ tử cung (cổ tử cung là cơ quan nối giữa âm đạo và buồng trứng). Tuổi thường gặp ung thư cổ tử cung là khoảng 30 – 59 tuổi,.. [..]

Ung thư cổ tử cung phát triển khi các tế bào bất thường ở niêm mạc cổ tử cung bắt đầu nhân lên khó kiểm soát và sau đó tập hợp thành một khối u lớn. U lành tính (không phải là ung thư) là khối u không lan rộng và thường không có hại. Tuy nhiên, các khối u ác tính sẽ lây lan và phát triển thành bệnh ung thư nguy hiểm với cơ thể.

1. Yếu tố làm tăng nguy cơ

- “Quan hệ” khi còn quá trẻ; “Quan hệ” với nhiều người; “Quan hệ” với một người mà người đó lại “quan hệ” với nhiều người khác.

- Bị nhiễm virus gây mụn cóc ở bộ phận sinh dục (HPV). Nhưng không phải phụ nữ nhiễm HPV hoặc nổi mụt cóc đều mắc ung thư cổ tử cung.

- Hút thuốc lá.

- Nhiễm trùng vùng kín (genital herpes) hay vi khuẩn chlamydia (hai chứng bệnh này gọi là bệnh truyền nhiễm đường tình dục – STDs).

- Chế độ ăn uống hàng ngày ít hoa quả và rau cải.

- Cân quá nặng; có mẹ (hay chị gái) mang bệnh ung thư cổ tử cung.

- Không đi khám phụ khoa theo định kỳ.

2. Phát hiện sớm ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung thường phát triển chậm. Trước khi phát hiện ra tế bào ung thư ở cổ tử cung, các mô ở cổ tử cung trải qua những thay đổi trong đó các tế bào bất thường bắt đầu xuất hiện (hiện tượng loạn sản). Những tế bào ung thư này thường được phát hiện nhờ việc làm phiến đồ âm đạo (xét nghiệm Pap). Muộn hơn, Tế bào ung thư bắt đầu phát triển và lan sâu thêm vào cổ tử cung và những vùng xung quanh.


Do ung thư cổ tử cung thường không có triệu chứng, bác sĩ phải tiến hành xét nghiệm hàng loạt để tìm bệnh. Xét nghiệm đầu tiên là làm phiến đồ âm đạo Pap, được tiến hành bằng cách dùng một miếng bông, một bàn chải, hoặc một que gỗ nhỏ để cạo nhẹ bên ngoài cổ tử cung để lấy tế bào.


Nếu phát hiện ra tế bào bất thường bác sĩ phải cắt một mẫu mô (gọi là sinh thiết) ở cổ tử cung và quan sát dưới kính hiển vi để xem có tế bào ung thư không. Sinh thiết mảnh mô nhỏ có thể được thực hiện tại phòng khám của bác sĩ. Nếu cần lấy một mảnh lớn hơn (cắt hình nón) bệnh nhân có thể phải đến bệnh viện.


Nếu tất cả phụ nữ được thăm khám vùng chậu và làm nghiệm pháp Pap định kỳ thì hầu hết các điều kiện tiền ung thư sẽ được phát hiện và được điều trị trước khi ung thư xuất hiện. Bằng cách đó, hầu hết các loại ung thư thể xâm lấn có thể phòng ngừa được. Tất cả các loại ung thư thể xâm lấn xảy ra có thể được phát hiện ra ở giai đoạn sớm và có thể chữa khỏi được.


Khi khám vùng chậu, bác sĩ kiểm tra tử cung, âm đạo, buồng trứng, vòi trứng, bàng quang, và trực tràng. Bác sĩ sẽ khám những cơ quan này để phát hiện ra những bất thường về hình dáng và kích thước. Bác sĩ có thể phải sử dụng một mỏ vịt để mở rộng âm đạo giúp nhìn thấy phần trên cao của âm đạo và cổ tử cung.


Nghiệm pháp Pap là một xét nghiệm đơn giản, không đau để phát hiện ra những tế bào bất thường ở trong và xung quanh cổ tử cung. Phụ nữ nên làm nghiệm pháp này ngoài những ngày có kinh nguyệt; thời gian tốt nhất là khoảng 10 đến 20 ngày sau ngày thứ nhất của chu kỳ kinh nguyệt. Trong khoảng hai ngày trước khi tiến hành nghiệm pháp Pap, nên tránh tắm vòi hoa sen hoặc sử dụng bọt, kem, hay gel diệt tinh trùng hoặc đặt thuốc âm đạo ( trừ những loại được bác sĩ chỉ định), những loại thuốc này có thể rửa trôi hoặc giấu đi các tế bào bất thường.


Nghiệm pháp Pap có thể tiến hành ở phòng khám hoặc trong bệnh viện. Dùng một cái nạo bằng gỗ (cái bay) hoặc một bàn chải nhỏ để lấy tế bào cổ tử cung và phần trên âm đạo. Những tế bào này được đặt lên một phiến kính và gửi tới phòng thí nghiệm để kiểm tra nhằm phát hiện ra những thay đổi bất thường.


Cách thức miêu tả kết quả nghiệm pháp Pap đang thay đổi. Phương pháp mới nhất là phương pháp sử dụng hệ thống Bethesda. Những thay đổi được mô tả theo SIL mức độ thấp hoặc là SIL mức độ cao. Nhiều bác sĩ cho rầng hệ thống Bethesda cung cấp nhiều thông tin bổ ích hơn hệ thống cũ, hệ thống cũ sử dụng các con số từ hạng 1 đến hạng 5. (Trong hạng 1, tế bào trong mẫu xét nghiệm là bình thường, còn hạng 5 là ung thư thể xâm lấn). Phụ nữ nên đề nghị bác sĩ giải thích hệ thống mô tả kết quả cho nghiệm pháp Pap của họ.


Phụ nữ nên đi khám định kỳ, bao gồm khám vùng chậu và làm nghiệm pháp Pap, nếu họ ở độ tuổi hoặc đã ở độ tuổi có hoạt động tình dục hay nếu họ >18 tuổi. Những người có nguy cơ ung thư cổ tử cung tăng cao cần đặc biệt tuân theo lời khuyên của bác sĩ về việc khám định kỳ. Những phụ nữ đã được cẳt tử cung (phẫu thuật cắt tử cung và cả cổ tử cung) nên hỏi ý kiến bác sĩ về việc khám vùng chậu và làm nghiệm pháp Pap.


Những thay đối tiền ung thư ở cổ tử cung thường không gây đau đớn. Thực tế là chúng thường không gây ra bất kỳ triệu chứng nào và sẽ không được phát hiện nếu người phụ nữ không đi khám và làm nghiệm pháp Pap.


Triệu chứng thường không xuất hiện cho đến khi tế bào bất thường ở cổ tử cung trở thành ung thư và xâm lấn vào các mô bên cạnh. Khi điều này xảy ra thì hiện tượng thường gặp nhất là ra máu một cách bất thường. Hiện tượng ra máu có thể bắt đầu và ngừng ở giữa chu kỳ kinh nguyệt, hoặc có thể xảy ra sau khi quan hệ tình dục, tắm vòi hoa sen, hoặc là khám vùng chậu. Kinh nguyệt có thể kéo dài hơn và với số lượng nhiều hơn bình thường. Ra máu sau khi mãn kinh có thể là một triệu chứng của ung thư cổ từ cung. Hiện tượng ra nhiều khí hư là một triệu chứng khác của ung thư cổ tử cung.

3. Chẩn đoán ung thư cổ tử cung

Khi phát hiện ra ung thư cổ tử cung bệnh nhân sẽ phải làm thêm các xét nghiệm để xem tế bào ung thư đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể chưa. Việc thăm dò này là quá trình phân giai đoạn. Để lên kế hoạch điều trị bác sĩ cần phải biết bệnh đang ở giai đoạn nào. Ung thư cổ tử cung được chia thành những giai đoạn sau:

Giai đoạn 0 hay ung thư biểu mô nông tại chỗ

Những triệu chứng này có thể do ung thư hoặc các bệnh khác gây ra. Chỉ có bác sĩ mới có thể khẳng định được. Điều quan trọng là người phụ nữ phải đến khám bác sĩ ngay khi có bất kỳ triệu chứng nào trong số này.

Giai đoạn I

Ung thư chỉ gây tổn thương cổ tử cung mà chưa lan sang khu vực lân cận.

Giai đoạn IA: Một lượng nhỏ tế bào ung thư ở sâu hơn trong lớp mô cổ tử cung nhưng chỉ được phát hiện ra trên kính hiển vi.

Giai đoạn IB: Một lượng lớn tế bào ung thư được phát hiện ra trong lớp mô cổ tử cung.

Giai đoạn II

Ung thư đã lan sang những vùng lân cận nhưng còn giới hạn trong vùng chậu.

Giai đoạn IIA: Ung thư đã lan hết cổ tử cung tới 2/3 trên âm đạo.

Giai đoạn IIB: Ung thư đã lan sang mô xung quanh cổ tử cung.

Giai đoạn III

Ung thư đã lan ra ngoài vùng chậu. Tế bào ung thư có thể lan tới phần dưới âm đạo. Những tế bào này có thể lan sang và làm tắc nghẽn niệu quản.

Giai đoạn IV

Ung thư đã lan sang các bộ phận khác của cơ thể.

Giai đoạn IVA: Ung thư đã lan sang bàng quang hay trực tràng (những cơ quan gần cổ tử cung).

Giai đoạn IVB: Ung thư đã lan sang các cơ quan ở xa như phổi.

Ung thư tái phát

Bệnh tái phát có nghĩa là ung thư xuất hiện trở lại sau khi đã được điều trị. Nó có thể xuất hiện lại ở cổ tử cung hoặc ở một vị trí khác.

4. Điều trị

Ba phương pháp điều trị được áp dụng cho điều trị ung thư cổ tử cung.

  • Phẫu thuật (cắt bỏ ung thư bằng phẫu thuật)
  • Tia xạ trị liệu (dùng tia X liều cao hoặc tia có năng lượng cao khác để tiêu diệt Tế bào ung thư).
  • Hóa trị liệu (sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư)

Bác sĩ có thể sử dụng một trong vài phương pháp phẫu thuật đối với ung thư biểu mô nông tại chỗ để tiêu diệt mô ung thư:

  • Phẫu thuật lạnh là phương pháp tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách làm đông lạnh nó.
  • Phẫu thuật bằng tia lazer là phương pháp dùng chùm tia hẹp có cường độ ánh sáng mạnh để diệt tế bào ung thư.

Bác sĩ có thể loại bỏ ung thư bằng cách áp dụng một trong ba dạng phẫu thuật sau:

  • Thủ thuật cắt bỏ mô hình nón là phương pháp lấy ra một mảnh mô hình nón ở nơi phát hiện ra sự bất thường. Có thể áp dụng thủ thuật cắt hình nón để sinh thiết một mảnh mô. Nhưng phương pháp này chỉ được áp dụng để điều trị ung thư cố tử cung giai đoạn sớm.
  • Bác sĩ có thể áp dụng phương pháp khác là cắt bằng vòng dây điện (LEEP) để loại bỏ mô bất thường. Phương pháp LEEP sử dụng một dòng điện truyền qua một vòng dây kim loại mảnh đóng vai trò như một con dao.
  • Chùm tia lazer có thể được sử dụng như một con dao để loại bỏ mô ung thư.
  • Thủ thuật cắt tử cung là phẫu thuật cắt bỏ tử cung và cổ tử cung cùng với ung thư. Nếu tử cung được lấy ra qua âm đạo thì phẫu thuật đó được gọi là thủ thuật cắt tử cung qua âm đạo. Nếu tử cung được lấy ra qua vết mổ ở bụng thì phẫu thuật đó được gọi là thủ thuật cắt toàn bộ tử cung qua ổ bụng. Đôi khi buồng trứng và vòi trứng cũng được cắt bỏ, loại phẫu thuật này được gọi là thủ thuật cắt buồng trứng và vòi trứng hai bên.
  • Thủ thuật cắt tử cung triệt để là loại phẫu thuật mà trong đó cổ tử cung, tử cung và một phần âm đạo được cắt bỏ. Các hạch bạch huyết trong vùng này cũng được vét bỏ.
  • Nếu ung thư đã lan ra ngoài cổ tử cung hay những cơ quan sinh dục, bác sĩ có thể cắt bỏ đoạn dưới đại tràng, trực tràng, hoặc bàng quang (tuỳ vào vị trí mà ung thư đã lan tới) cùng với cổ tử cung, tử cung và âm đạo. Phương pháp này được gọi là cắt bỏ nội tạng và hiếm khi được sử dụng. Có thể sau đó phải tiến hành phầu thuật tạo hình để tạo âm đạo giả.

Tia xạ trị liệu là việc sử dụng tia X hay những tia có năng lượng cao khác để tiêu diệt tế bào ung thư và làm khối u nhỏ lại. Tia phóng xạ có thể xuất phát từ một máy bên ngoài cơ thể (chiếu xạ ngoài) hay từ những nguyên liệu phát xạ (các chất đồng vị phóng xạ) được đưa vào vùng có tế bào ung thư qua những ống nhựa nhỏ (chiếu xạ trong). Có thể sử dụng tia phóng xạ đơn độc hoặc bổ sung cho phẫu thuật.

Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Thuốc có thể ở dạng uống như viên nang hoặc có thể được đưa vào cơ thể bằng cách tiêm vào tĩnh mạch. Hóa trị liệu còn được gọi là phương pháp điều trị hệ thống hay toàn thân bởi thuốc đi vào mạch máu tới khắp cơ thể và có thể tiêu diệt tế bào ung thư ở ngoài cổ tử cung.

Ba phương pháp điều trị được áp dụng cho điều trị ung thư cổ tử cung.

  • Phẫu thuật (cắt bỏ ung thư bằng phẫu thuật)
  • Tia xạ trị liệu (dùng tia X liều cao hoặc tia có năng lượng cao khác để tiêu diệt Tế bào ung thư).
  • Hóa trị liệu (sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư)

Bác sĩ có thể sử dụng một trong vài phương pháp phẫu thuật đối với ung thư biểu mô nông tại chỗ để tiêu diệt mô ung thư:

  • Phẫu thuật lạnh là phương pháp tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách làm đông lạnh nó.
  • Phẫu thuật bằng tia lazer là phương pháp dùng chùm tia hẹp có cường độ ánh sáng mạnh để diệt tế bào ung thư.

Bác sĩ có thể loại bỏ ung thư bằng cách áp dụng một trong ba dạng phẫu thuật sau:

  • Thủ thuật cắt bỏ mô hình nón là phương pháp lấy ra một mảnh mô hình nón ở nơi phát hiện ra sự bất thường. Có thể áp dụng thủ thuật cắt hình nón để sinh thiết một mảnh mô. Nhưng phương pháp này chỉ được áp dụng để điều trị ung thư cố tử cung giai đoạn sớm.
  • Bác sĩ có thể áp dụng phương pháp khác là cắt bằng vòng dây điện (LEEP) để loại bỏ mô bất thường. Phương pháp LEEP sử dụng một dòng điện truyền qua một vòng dây kim loại mảnh đóng vai trò như một con dao.
  • Chùm tia lazer có thể được sử dụng như một con dao để loại bỏ mô ung thư.
  • Thủ thuật cắt tử cung là phẫu thuật cắt bỏ tử cung và cổ tử cung cùng với ung thư. Nếu tử cung được lấy ra qua âm đạo thì phẫu thuật đó được gọi là thủ thuật cắt tử cung qua âm đạo. Nếu tử cung được lấy ra qua vết mổ ở bụng thì phẫu thuật đó được gọi là thủ thuật cắt toàn bộ tử cung qua ổ bụng. Đôi khi buồng trứng và vòi trứng cũng được cắt bỏ, loại phẫu thuật này được gọi là thủ thuật cắt buồng trứng và vòi trứng hai bên.
  • Thủ thuật cắt tử cung triệt để là loại phẫu thuật mà trong đó cổ tử cung, tử cung và một phần âm đạo được cắt bỏ. Các hạch bạch huyết trong vùng này cũng được vét bỏ.
  • Nếu ung thư đã lan ra ngoài cổ tử cung hay những cơ quan sinh dục, bác sĩ có thể cắt bỏ đoạn dưới đại tràng, trực tràng, hoặc bàng quang (tuỳ vào vị trí mà ung thư đã lan tới) cùng với cổ tử cung, tử cung và âm đạo. Phương pháp này được gọi là cắt bỏ nội tạng và hiếm khi được sử dụng. Có thể sau đó phải tiến hành phầu thuật tạo hình để tạo âm đạo giả.

Tia xạ trị liệu là việc sử dụng tia X hay những tia có năng lượng cao khác để tiêu diệt tế bào ung thư và làm khối u nhỏ lại. Tia phóng xạ có thể xuất phát từ một máy bên ngoài cơ thể (chiếu xạ ngoài) hay từ những nguyên liệu phát xạ (các chất đồng vị phóng xạ) được đưa vào vùng có tế bào ung thư qua những ống nhựa nhỏ (chiếu xạ trong). Có thể sử dụng tia phóng xạ đơn độc hoặc bổ sung cho phẫu thuật.

Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Thuốc có thể ở dạng uống như viên nang hoặc có thể được đưa vào cơ thể bằng cách tiêm vào tĩnh mạch. Hóa trị liệu còn được gọi là phương pháp điều trị hệ thống hay toàn thân bởi thuốc đi vào mạch máu tới khắp cơ thể và có thể tiêu diệt tế bào ung thư ở ngoài cổ tử cung.

Ba phương pháp điều trị được áp dụng cho điều trị ung thư cổ tử cung.

  • Phẫu thuật (cắt bỏ ung thư bằng phẫu thuật)
  • Tia xạ trị liệu (dùng tia X liều cao hoặc tia có năng lượng cao khác để tiêu diệt Tế bào ung thư).
  • Hóa trị liệu (sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư)

Bác sĩ có thể sử dụng một trong vài phương pháp phẫu thuật đối với ung thư biểu mô nông tại chỗ để tiêu diệt mô ung thư:

  • Phẫu thuật lạnh là phương pháp tiêu diệt tế bào ung thư bằng cách làm đông lạnh nó.
  • Phẫu thuật bằng tia lazer là phương pháp dùng chùm tia hẹp có cường độ ánh sáng mạnh để diệt tế bào ung thư.

Bác sĩ có thể loại bỏ ung thư bằng cách áp dụng một trong ba dạng phẫu thuật sau:

  • Thủ thuật cắt bỏ mô hình nón là phương pháp lấy ra một mảnh mô hình nón ở nơi phát hiện ra sự bất thường. Có thể áp dụng thủ thuật cắt hình nón để sinh thiết một mảnh mô. Nhưng phương pháp này chỉ được áp dụng để điều trị ung thư cố tử cung giai đoạn sớm.
  • Bác sĩ có thể áp dụng phương pháp khác là cắt bằng vòng dây điện (LEEP) để loại bỏ mô bất thường. Phương pháp LEEP sử dụng một dòng điện truyền qua một vòng dây kim loại mảnh đóng vai trò như một con dao.
  • Chùm tia lazer có thể được sử dụng như một con dao để loại bỏ mô ung thư.
  • Thủ thuật cắt tử cung là phẫu thuật cắt bỏ tử cung và cổ tử cung cùng với ung thư. Nếu tử cung được lấy ra qua âm đạo thì phẫu thuật đó được gọi là thủ thuật cắt tử cung qua âm đạo. Nếu tử cung được lấy ra qua vết mổ ở bụng thì phẫu thuật đó được gọi là thủ thuật cắt toàn bộ tử cung qua ổ bụng. Đôi khi buồng trứng và vòi trứng cũng được cắt bỏ, loại phẫu thuật này được gọi là thủ thuật cắt buồng trứng và vòi trứng hai bên.
  • Thủ thuật cắt tử cung triệt để là loại phẫu thuật mà trong đó cổ tử cung, tử cung và một phần âm đạo được cắt bỏ. Các hạch bạch huyết trong vùng này cũng được vét bỏ.
  • Nếu ung thư đã lan ra ngoài cổ tử cung hay những cơ quan sinh dục, bác sĩ có thể cắt bỏ đoạn dưới đại tràng, trực tràng, hoặc bàng quang (tuỳ vào vị trí mà ung thư đã lan tới) cùng với cổ tử cung, tử cung và âm đạo. Phương pháp này được gọi là cắt bỏ nội tạng và hiếm khi được sử dụng. Có thể sau đó phải tiến hành phầu thuật tạo hình để tạo âm đạo giả.

Tia xạ trị liệu là việc sử dụng tia X hay những tia có năng lượng cao khác để tiêu diệt tế bào ung thư và làm khối u nhỏ lại. Tia phóng xạ có thể xuất phát từ một máy bên ngoài cơ thể (chiếu xạ ngoài) hay từ những nguyên liệu phát xạ (các chất đồng vị phóng xạ) được đưa vào vùng có tế bào ung thư qua những ống nhựa nhỏ (chiếu xạ trong). Có thể sử dụng tia phóng xạ đơn độc hoặc bổ sung cho phẫu thuật.

Hóa trị liệu là phương pháp sử dụng thuốc để tiêu diệt tế bào ung thư. Thuốc có thể ở dạng uống như viên nang hoặc có thể được đưa vào cơ thể bằng cách tiêm vào tĩnh mạch. Hóa trị liệu còn được gọi là phương pháp điều trị hệ thống hay toàn thân bởi thuốc đi vào mạch máu tới khắp cơ thể và có thể tiêu diệt tế bào ung thư ở ngoài cổ tử cung.


Trên đây là những thông tin  mà các bạn có thể tham khảo, để biết  thêm chi tiết và được hứơng dẫn cụ thể, hãy gọi đến tổng đài 1900.6180 để  nhận được tư vấn trực tiếp từ các bác sĩ.

BS Bích Ngọc