yahoo
TỔNG ĐÀI TƯ VẤN
1900.6180

Một số xét nghiệm dấu ấn ung thư thông dụng  12:09 08/09/2017

Dấu ấn ung thư được sử dụng trong cả sàng lọc nguy cơ mắc bệnh, chẩn đoán bệnh, chẩn đoán giai đoạn bệnh, tiên lượng bệnh và theo dõi sự tái phát bệnh sau điều trị. [..]

Dấu ấn ung thư được sử dụng trong cả sàng lọc nguy cơ mắc bệnh, chẩn đoán bệnh, chẩn đoán giai đoạn bệnh, tiên lượng bệnh và theo dõi sự tái phát bệnh sau điều trị.

Dấu ấn ung thư (tumor marker) có thể là sản phẩm được trực tiếp tạo ra từ các tế bào ác tính (tế bào ung thư), hoặc là các sản phẩm của cơ thể tạo ra trong quá trình hình thành khối u. Xét nghiệm dấu ấn ung thư có thể từ tổ chức khối u, từ máu, từ phân hoặc từ dịch cơ thể.


Trong lâm sàng, mỗi bệnh ung thư có rất nhiều dấu ấn được sử dụng. Giá trị của các dấu ấn ung thư không phải dùng để chẩn đoán bệnh mà chủ yếu là theo dõi và tiên lượng bệnh.

1. AFP (Alpha Feto Protein): Bình thường 0-7 ng/ ml

Là 1 glycoprotein được sản xuất do gan và niêm mạc ruột trong thời kỳ bào thai. AFP huyết tương tăng nhiều nhất trong ung thư tế bào gan nguyên phát. Giá trị chính của AFP là theo dõi tiến trình bệnh và hiệu quả điều trị. Ngoài ra, AFP có thể tăng trong ung thư tế bào mầm (tinh hoàn), viêm gan, xơ gan, viêm tuyến nước bọt,…

2. CEA (Carcino Embryonic Antigen): Bình thường < 10 ng/m

CEA là một glycoprotein do các tế bào biểu mô đại trực tràng tiết ra. CEA được áp dụng chủ yếu trong chẩn đoán ung thư đại trực tràng. Ngoài ra, CEA tăng trong ung thư khác như: ung thư thực quản, dạ dày, gan, tụỵ, vú, buồng trứng, cổ tử cung, tuyến giáp và ung thư phế quản. CEA có thể tăng vừa phải trong polyp đại tràng, viêm ruột non, viêm tuỵ, suy thận mạn.

3. CA 19-9 (Cancer Antigen 19-9): Bình thường 0-33 U/ ml

Hiện nay, CA 19-9 được áp dụng chủ yếu trong ung thư tụy và đường mật. CA 19-9 còn tăng trong các ung thư đường tiêu hoá khác như ung thư gan, dạ dày và đại trực tràng. CA 19-9 cũng có thể tăng trong viêm gan, viêm tuỵ, đái tháo đường, xơ gan, tắc mật.

4. CA 15-3 (Cancer Antigen 15-3): bình thường 0-32 U/ ml.

CA 15-3 tăng trong ung thư vú, có thể tăng trong u vú lành tính, viêm gan, viêm tuỵ. CA 15-3 chủ yếu để theo dõi tiến triển bệnh ở bệnh nhân ung thư vú di căn, song không phù hợp cho việc chẩn đoán vì độ nhạy quá thấp khi ung thư vú chưa có di căn.

5. CA 125: (Cancer Antigen): bình thường 0-35 U/ ml.

CA 125 có vai trò chủ yếu trong chẩn đoán ung thư buồng trứng, đánh giá điều trị và theo dõi tiến trình của bệnh. CA 125 còn tăng trong ung thư cổ tử cung và các bệnh lý thanh dịch như cổ trướng, viêm màng tim, viêm màng phổi, viêm màng bụng,...

6. CA 72-4 (Cancer antigen 72-4): bình thường 0-5,4 U/ ml.

CA 72-4 là kháng nguyên được tìm thấy trên bề mặt của tế bào khối u. CA 72-4 được chủ yếu sử dụng trong bệnh lý ung thư dạ dày, ung thư buồng trứng. CA 72-4 còn tăng trong bệnh lý xơ gan, viêm tuỵ, viêm phổi, thấp khớp.

7. PSA (Prostate Specific Antigen): bình thường 0-10 U/ L.

PSA do tế bào biểu mô của tuyến tiền liệt bài tiết ra. PSA huyết tương tăng trong ung thư tuyến tiền liệt; có thể tăng trong u phì đại, viêm tuyến tiền liệt.

8. CYFRA 21-1 (Cytokeratin19 fragment): bình thường 0 - 3,3 U/ L

Cytokeratin fragment 19 có bản chất là protein, tham gia vào quá trình tạo nên hệ thống mạng lưới nội bào tương của tế bào. CYFRA 21-1 huyết tương tăng trong ung thư phổi tế bào nhỏ, ung thư bàng quang. CYFRA 21-1 cũng có thể tăng trong một số bệnh phổi, dạ dày, thận.

9. SCC (Squamous Cell Carcinoma): bình thường 0- 3 µg/ L

Tăng trong loại ung thư tế bào vẩy như ung thư cổ tử cung, ung thư phổi tế bào vẩy, ung thư miệng...SCC có gía trị theo dõi tiến trình bệnh và đánh giá đáp ứng điều trị ung thư tế bào vẩy (ung thư cổ tử cung, thực quản) nguyên phát và tái phát. SCC huyết tương cũng có thể tăng trong tắc nghẽn phổi, hen.

>>>Các bài viết khác : Điều gì đang gây bệnh ung thư?